Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 22 tháng 3, 2010

ULTRASOUND DIAGNOSIS of DIFFUSE LIVER DISEASE at MEDIC MEDICAL CENTER, HCMC, VIETNAM

SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN BỆNH LÝ GAN TẠI TRUNG TÂM Y KHOA MEDIC
ULTRASOUND DIAGNOSIS of DIFFUSE LIVER DISEASE at MEDIC MEDICAL CENTER, HCMC, VIETNAM

Bảng kê các công nghệ mới của siêu âm khảo sát độ cứng của gan

Fibroscan / transient elastography

Ultrasonic Computed Tomography (UCT) / transient elastography

Real-time sonoelastography: with external excitation
                   
                   HITACHI /ARFI (acoustic radiation force impulse)

                   ACUSON Antares / ARFI (acoustic radiation force impulse)

                  TOSHIBA / radio frequency (RF), ASQ (acoustic structure quantification), speckle signal

Shear wave Elastography : with internal excitation (nondependent-operator)

 ACUSON S2000 / ARFI (acoustic radiation force impulse)

 SUPERSONIC IMAGINE / SSI (supersonic shear imaging)

Để quản lý bệnh nhân mắc bệnh gan có 2 mục tiêu phải thực hiện: theo dõi thường quy (routine monitoring) và phát hiện khối u.
Sinh thiết gan là biện pháp hàng đầu nhưng đắt tiền, khó chấp nhận và có khả năng may rủi. Nên từ khi có siêu âm tại Việt nam (1982), phương tiện chẩn đoán hình ảnh thân thiện này thường được lâm sàng chỉ định để khảo sát các trường hợp gọi là viêm gan “non-A, non-B”, góp phần chẩn đoán và theo dõi điều trị cho các trường hợp bệnh lý gan cho đến nay.

Vai trò siêu âm trong bệnh lý gan tại Việt nam không thể phủ nhận, và đã được đánh giá nhiều lần. Tuy không đặc hiệu, nhưng siêu âm giúp phân biệt các trường hợp khác nhau của nhóm bệnh lý như viêm gan sau truyền máu, viêm gan do thuốc, tổn thương gan do rượu, gan thấm mỡ và xơ gan mật nguyên phát.

Để khám phát hiện bệnh lý gan lan tỏa, siêu âm chẩn đoán dựa vào sự biến dạng cấu trúc gan (tissue distorsion) bằng hình ảnh thang xám B-mode quy ước và sau đó là kỹ thuật Doppler và color Doppler để khảo sát chức năng gan qua lưu lượng máu tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách và các tĩnh mạch trên gan. Qua đó phát hiện các trường hợp xơ hoá gan còn có thể điều trị được, góp phần kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân viêm gan mạn. Một số trường hợp viêm gan mạn cũng được siêu âm tìm ra các khối u ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) khi khám định kỳ và sau đó được CT, MRI hay phẫu thuật xác nhận.

Siêu âm đo độ đàn hồi là lãnh vực mới trong thập niên qua gồm nhiều kỹ thuật để mô tả các đáp ứng cơ học hay đặc điểm cơ học của mô, nhằm thiết lập các khác biệt cơ học có ý nghĩa của nhiều thành phần mô và những thông tin của tán xạ kết hợp (coherent scattering) hay đốm (speckle= dạng hạt của hình và phổ do giao thoa các hồi âm do phân bố âm tán xạ trong mô) giúp phát hiện sự khác nhau của các kích thích cơ học từ ngoài hay bên trong. Các thông số như là tốc độ hay độ rung động (vibration), sự dời chỗ, đè ép, chỉ số biến dạng, tốc độ sóng truyền và độ đàn hồi…, tất cả được biểu hiện để đánh giá và có kết quả chính xác các khối mô cứng hơn bình thường như của khối u và mảng xơ vữa. Gần đây, thông qua các thuật toán siêu nhanh (ultrafast algorithms) trong các phần cứng thích hợp cũng như sự quen thuộc của người khám và độ nhạy của phương pháp sử dụng, kỹ thuật tạo hình đàn hồi (elasticity imaging), đặc biệt là đo độ đàn hồi đã được cài đặt vào máy siêu âm. Nói các khác, giản đồ đo độ đàn hồi (elastogram) đã có được hầu như tức thì với đầu dò siêu âm trong lúc và đồng thời với lượt khám siêu âm như khám vú và tiền liệt tuyến cũng như các vùng cơ tim thiếu máu trong vài chu chuyển tim.

Siêu âm đo độ đàn hồi là phương pháp không xâm lấn để phát hiện hình ảnh biến dạng của mô mềm hay để phân loại khối u. Một khối u hay tổn thương nghi ngờ ác tính thường cứng hơn mô lành từ 5 đến 28 lần. Khi bị ấn hay bị rung, u ít biến dạng hơn mô lành xung quanh. Nên có thể phân tích và hiển thị hình biến dạng theo độ đàn hồi Young (gía trị tuyệt đối Young, Young'modulus).

Siêu âm đo độ đàn hồi là phương pháp có giá rẻ hơn, nhanh hơn và thuận tiện hơn các kỹ thuật khác như cộng hưởng từ đàn hồi [magnetic resonance elastography (MRE)].

Transient elastography (siêu âm độ đàn hồi chuyển tiếp hay thoáng qua) đo độ cứng gan trong cơ thể sống (FibroScan, Echosens, France). Là phương pháp không xâm lấn có thể thay thế cho sinh thiết gan. Đã có các báo cáo về độ đàn hồi gan tương quan với chỉ số xơ hoá (fibrosis score). Từ 2006, với FibroScan, siêu âm Medic tiến thêm một bước vào việc khảo sát định lượng độ cứng của gan (liver stiffness). Bình thường mô gan mềm và dẻo, nhưng khi bị viêm các tế bào gan chết đi và được thay thế bằng các sợi collagen nên mô gan cứng dần. Tiến trình này gọi là gan hoá xơ (fibrosis) thường diển tiến chậm hàng chục năm. Khi độ cứng tăng thêm, gan bị xơ nhiều trở thành chai gan (cirrhosis) sẽ có nhiều khả năng bị ung thư gan. Với FibroScan sẽ đánh giá được tình trạng gan hoá xơ, mà không phải sinh thiết, và nếu chưa đến giai đoạn nặng gan có thể được điều trị phục hồi.

Từ 2009 siêu âm MEDIC trang bị máy TOSHIBA AplioXG với kỹ thuật ASQ (acoustic structure quantification) và 2010 có máy Multiwave SUPERSONIC IMAGINE với kỹ thuật Shear Wave Elastography, 2 máy này đều dành khảo sát real-time định lượng độ cứng gan và các khối u gan (cũng như bệnh lý da, tuyến vú và tuyến giáp).

Kỹ thuật ASQ của TOSHIBA AplioXG và kỹ thuật Shear Wave Elastography của SUPERSONIC IMAGINE là hỗ trợ lớn cho kỹ thuật transient elastography của FibroScan. Nếu như FibroScan chỉ khảo sát mù vì không hiển thị vùng gan khảo sát thì cả hai kỹ thuật này đều khảo sát độ cứng mô cơ thể (gồm cả mô gan) trong thời gian thực (real-time). Riêng kỹ thuật Shear Wave Elastography của SUPERSONIC IMAGINE không lệ thuộc người khám vì không cần phải ấn khám nên có thể lập lại kết quả (reproducible).

Chi tiết kỹ thuật của 2 máy này xin xem bài riêng đã có giới thiệu trên tạp chí Siêu âm ngày nay, blog siêu âm MEDIC và kỹ thuật siêu âm chẩn đoán ở trang web SCRIBD.com.

Sự tiến bộ của công nghệ siêu âm đã làm cho việc khảo sát độ cứng gan trở nên đơn giản, chỉ như việc khám sàng lọc sức khoẻ ban đầu. Sau khi được xét nghiệm huyết thanh xác định bệnh lý gan, bệnh nhân được khám siêu âm và định lượng serum alpha-fetoprotein  theo dõi thường xuyên, và khi gan bắt đầu cứng có thể tránh hoặc phát hiện sớm các khối u tế bào gan nguyên phát ác tính nhỏ, còn có thể cắt bỏ được.

Khảo sát độ cứng gan bằng các công nghệ siêu âm đàn hồi mới cùng với xác định biến dạng cấu trúc gan bằng siêu âm quy ước chắc chắn sẽ làm tăng độ tin cậy chẩn đoán của siêu âm MEDIC trong bệnh lý gan lan tỏa.


Tài liu tham khảo:
1. CARSTENSEN,E.L. et al: Elastography in the Management of Liver Disease (Review), Ultrasound in Med.& Biol., Vol.34, N010, pp.1535-1546, 2008.
2. KONOFAGOU E.E.: Quo vadis elasticity imaging? Ultrasonics, 2004 Apr;42(1-9):331-6.
3. SUMINO, Y: Ultrasound Diagnosis of Diffuse Liver Disease (editorial), J. Med Ultrasonics 36:1-2 (2009).

Không có nhận xét nào :