Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2010

SHEAR WAVE ELASTOGRAPHY (SWE) DIAGNOSING BREAST TUMORS in MEDIC MEDICAL CENTER, HCMC, VIETNAM.

SIÊU ÂM ĐÀN HỒI SÓNG BIẾN DẠNG (SWE) CHẨN ĐOÁN U TUYẾN VÚ TẠI TRUNG TÂM Y KHOA MEDIC

BS NGUYỄN DUY THƯ, BS NGUYỄN THIỆN HÙNG, BS PHAN THANH HẢI

Trung tâm Y khoa MEDIC Hoà Hảo-Thành phố Hồ Chí Minh

Abstract: Applying the shear wave elastography (SWE) of Supersonic Imagine on  breast ultrasonography in Medic Medical Center, HCMC, Vietnam from November 2009 to November 2010. It was a descriptive, cross-sectional, prospective study in comparison the SWE  to conventional ultrasonography, mammography and biopsy (FNA and core biopsy). There were 724 breast tumors with 568 benign tumors (78%) and 156 malignant tumors (22%). The elastic score (ES) of benign group was in range from 04 to 45kPa with elastic ratio from 0.7 to 4.6, ES cut-off value for benign tumor was under 20kPa.  And  elastic score from 22 to 300kPa with elastic ratio from 3.3 to 26.4 for the malignant group; ES cut-off value for malignant tumor was over 70kPa. Authors noted that the sensibility and specifility of results were improved when adding shear wave properties and BI-RADS classification into the criteria of evaluation.

Tóm tắt: Áp dụng siêu âm đo độ đàn hồi sóng biến dạng (Shear Wave Elastography, SWE ) ở 724 ca u vú có đối chiếu với siêu âm thường quy, nhũ ảnh và sinh thiết  tại Trung tâm Y khoa MEDIC từ tháng 11/2009 đến 11/ 2010. Đây là một nghiên cứu mô tả, cắt ngang và tiền cứu, đối chiếu siêu âm đàn hồi sóng biến dạng (SWE) với siêu âm vú thường quy, nhũ ảnh và sinh thiết. Kết quả: có tất cả 724 u vú khảo sát gồm 568 ca u lành tính (thay đổi sợi bọc, u sợi tuyến, u diệp thể) chiếm 78 %, có độ đàn hồi từ 4 đến 45 kPa, chỉ  số đàn hồi ER  từ  0,7 đến 4,6; giá trị ngưỡng của ES u lành tính là dưới 20 kPa. Và 156 ca ung thư vú chiếm 22 %, có độ đàn hồi từ 22 đến 300 kPa, chỉ số đàn hồi ER  từ 3,3  đến 26,4; giá trị ngưỡng của ES u ác tính là trên 70 kPa. Các tác giả nhận thấy qua nghiên cứu này độ nhạy và độ đặc hiệu của kết quả siêu âm được tăng cường đáng kể khi thêm các đặc điểm shear wave vào phân hạng BI-RADS.
SHEAR WAVE ELASTOGRAPHY of BREAST TUMORS - Presentation Transcript
THU DUY NGUYEN, HUNG THIEN NGUYEN,  HAI THANH PHAN
MEDIC MEDICAL CENTER, HCMC,VIETNAM

 OBJECTIVES: To evaluate shear wave elastography of breast tumors in comparison to conventional ultrasound and BIRADS classification.

MATERIAL and METHODS : A descriptive, cross-sectional, prospective study in comparison the SWE to conventional ultrasonography, mammography and biopsy (FNA and core biopsy) from November 2009 to November 2010 at Medic Medical Center. Conventional ultrasound MEDISON with linear probe 10MHz, and Supersonic Imagine system, linear probe 15MHz . 724 breast tumors with 568 benign tumors and 156 malignant tumors .

 Fig.1:A breast tumor with regular contour ( BIRADS III) on conventional US. On SWE system this tumor becomes BIRADS IV on B-Mode and the stiffness (hard).



Shear Wave Elastography technique

 Shear Wave Elastography technique : interactions between acoustic waves and shear waves (SW).
- SW # 10m/sec are generated in tissue and are caught by ultrafast imaging.
- Process less than 20 sec.
- Tissue elasticity (stiffness) presented as elastogram with quantitative values in kilopascals (kPa) units. Tissue stiffness in color range from red (very hard), orange, yellow, green and blue (soft).
- Elastic ratio (ER) = proportion of stiffness of lesion and surrounding (fatty tissue).

Fig.3: Mecanism of shear wave elastography (SWE).



RESULTS: With 724 cases:
568 benign tumors (fibrocystic changes, fibroadenona, phyllodes tumors) # 78 % (4 to 45 kPa), with elastic ratio ER from 0.7 to 4.6.
156 malignant tumors # 22 % (from 22 to 300 kPa), with ER from 3.3 to 26.4.


Table 1: Distribution of elastic values of benign and malignant breast tumors.


DISCUSSIONS:
Diagnostic criteria= elastogram, dimension, homogeneity, elastic value, and elastic ratio.

1/156 cases of malignant tumor: most of cases with elastic value from 40kPa to 70kPa or more. 14 cases with elastic value less than 40kPa, but ER higher than 4 times.
2/Benign tumors with elastic value of 20kPa. 41 cases (#7%) more than 20kPa but lower than 45kPa: fibroadenoma with great dimension, huge phyllodes tumors (inhomogenous elastogram with blue color dominant).

 3/Proposal management :
- Breast tumors with BIRADS II-III, low stiffness, low ER : follow up.
- Breast tumors with BIRADS III and high stiffness: reclassified to BIRADS IV and biopsy.
- Breast tumors with BIRADS IV and low stiffness:reclassified to BIRADS III and follow up. With  biopsy  their results are not false negative.
 Elastogram analysis: very high kPa value, no need to check.
 With low kPa must refer elastic ratio (ER). The higher ER the higher possibility of malignancy.

4/ Elastogram analysis :
Benign tumor=between blue and yellow code (from soft to hard ) and homogenous.
Malignant tumor: elastogram changes from yellow to red (hard) and homogenous. Because of central necrosis the center of tumor is always softer than (blue). So need to evaluate altogether elastic value (stiffness), elastic ratio and elastogram to gain an exact diagnosis.
Elastogram may help choosing the area of biopsy.

 Fig.4: Fibroadenoma (BIRADS III) on B-mode and Elastogram (blue)



 Fig.5: B-mode (BIRADS III) but so hard with elastogram, a ductal carcinoma (biopsy).



 Fig.6: Microcalcification of ductal carcinoma on high resolution B-mode and Elastogram (hard) .




 CONCLUSIONS: Malignant tumor has elastic value of 40-70kPa and more. Benign tumor, under 20kPa. SWE improves sensibility and speficity of ultrasound in diagnosing breast tumor and decreases the rate of breast biopsy.


I. Đặt vấn đề:

Siêu âm đã được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán bệnh lý tuyến vú từ lâu, nhiều thế hệ máy siêu âm đã ra đời, độ phân giải ngày càng cao giúp cho bác sĩ siêu âm phát hiện và đánh giá về hình thái học khối u ngày càng chính xác.Thêm vào đó là sự ra đời của hệ thống phân loại BI-RADS càng chuẩn hóa hơn trong chẩn đoán u tuyến vú. Theo phân loại BI-RADS: nhóm BI-RADS III có khoảng 4% là ung thư vú và nhóm này thường chỉ theo dõi mà không can thiệp sinh thiết. Nhóm BI-RADS IV có từ 4 đến 92% là ác tính, số còn lại đã bị can thiệp quá mức.
Hạn chế của siêu âm vú trong đánh gía bệnh lý tuyến vú do nhiều nguyên nhân: hình ảnh thô, nhiễu đốm, kỹ thuật khám nghèo nàn, không chắc chắn, mô tả phân tích không chuẩn và lệ thuộc người khám. Các vấn đề này được giải quyết một phần với phân hạng BI-RADS cho siêu âm.

Gần đây, với các đầu dò linear ly giải cao, và kỹ thuật siêu âm đàn hồi dễ thực hiện, siêu âm vú không những không còn lệ thuộc vào người khám nữa mà còn được tăng cường thêm tính chuyên biệt. David Cosgrove và cs kết luận SWE làm tăng độ chuyên biệt tuyệt đối ít nhất 20% so với siêu âm thường quy, khi thực hiện một nghiên cứu ở 1.000 phụ nữ tại 16 điểm ở Âu châu và Mỹ, trong đó sinh thiết 910 tổn thương với 34,4% (313 ca) là ác tính. Sung Hun Kim và cs trong một công trình khảo sát kết hợp siêu âm thường quy và siêu âm đàn hồi 315 u vú (267 lành và 48 ác tính) ở 278 bệnh nhân có biopsy. Kết hợp siêu âm thường quy và siêu âm đàn hồi với kết quả có độ nhạy 93,8%, độ chuyên biệt 51,7%, giá trị tiên đoán dương là 25,9%, và giá trị tiên đoán âm là 97,9%. Với kết quả này tác giả hy vọng kết hợp siêu âm thường quy và siêu âm đàn hồi sẽ làm giảm việc sinh thiết vú không cần thiết.

Được biết một phân hạng BI-RADS cho siêu âm có thêm các tiêu chuẩn về độ đàn hồi đang được chuẩn bị công bố vào cuối năm 2010.


Nhằm làm tăng độ chuyên biệt của siêu âm vú và tránh phụ thuộc người khám trong thập niên qua, thế hệ máy siêu âm đo độ đàn hồi vú đã ra đời. Đây là lãnh vực mới của siêu âm chẩn đoán, kỹ thuật này giúp phân loại BI-RADS III- IV chính xác hơn, từ đó hạn chế được sinh thiết vú không cần thiết.

II.Tổng quan:

Siêu âm đo độ đàn hồi vú là phương pháp không xâm lấn để phát hiện hình ảnh biến dạng của mô mềm hay để phân loại khối u. Các thông số như độ dao động (vibration), sự dời chỗ, đè ép, chỉ số biến dạng, tốc độ sóng truyền và độ đàn hồi…đều được dùng để đánh giá độ cứng. Một khối u hay tổn thương nghi ngờ ác tính thường cứng hơn mô lành từ 4 đến 26 lần. Khi bị ấn hay bị rung, u ít biến dạng hơn mô lành xung quanh.



Siêu âm đo độ đàn hồi vú là phương pháp có giá rẻ hơn, nhanh hơn và thuận tiện hơn các kỹ thuật khác như cộng hưởng từ đàn hồi (magnetic resonance elastography, MRE).

Kỹ thuật đo độ đàn hồi sóng biến dạng (Shear Wave Elastography, SWE) của SUPERSONIC IMAGINE dùng khám vú tại Trung tâm Medic có độ phân giải rất cao với đầu dò linear 15MHz, tín hiệu Doppler cực nhạy, chức năng đo độ đàn hồi không lệ thuộc người khám vì không cần phải ấn khám, định lượng được và có tính lập lại kết quả (reproducible).

Kỹ thuật đo độ đàn hồi sóng biến dạng (SWE) là phương tiện tương tác giữa sóng siêu âm thường quy và sóng biến dạng để xác định độ đàn hồi mô tuyến vú và phát hiện khối u khi đo được độ cứng của u. Sóng biến dạng là loại sóng siêu âm truyền ngang được tạo ra trong mô cứng để làm biến dạng nhất thời mà không làm thay đổi dung lượng và mật độ. Khi phát hiện tổn thương, người khám giữ yên đầu dò trên mặt da trong vài giây mà không đè ép và ấn nút hoạt hóa trên bàn phím. Sóng biến dạng truyền chậm, ít hơn 10m/giây trong mô, được tạo ra trong mô và được bắt bằng công nghệ tạo hình siêu nhanh (ultrafast imaging), toàn bộ tiến trình chỉ trong khoảng ít hơn 20 giây.

Tốc độ lan truyền của sóng biến dạng liên quan trực tiếp với độ đàn hồi mô. Tốc độ lan truyền của sóng biến dạng được tính toán và độ đàn hồi mô được hiển thị thành đơn vị kilopascals (kPa) trên bản đồ đàn hồi (elastogram) màu mã hóa của vùng được chọn ROI (region of interest). Độ cứng của mô được hiển thị trong một khoảng phân bố từ đỏ sậm (rất cứng) rồi màu cam, vàng, xanh lá cây cho đến màu xanh dương (rất mềm). Mỗi điểm ảnh màu (pixel) trên bản đồ đàn hồi màu mã hóa có một giá trị kilopascal. Tập hợp lại tất cả thành độ đàn hồi mô tại chỗ và tức thì, được hiển thị trên bản đồ đàn hồi màu mã hóa ngay trên màn hình máy siêu âm. Giá trị độ cứng của tổn thương và tỉ lệ độ cứng giữa tổn thương và mô lành xung quanh (thường là mô mỡ), gọi là chỉ số đàn hồi (elastic ratio), cũng được ghi nhận.


H.2: Cơ chế hoạt động của siêu âm đàn hồi sóng biến dạng (SWE).



Trong khi đó, các kỹ thuật siêu âm đàn hồi quy ước là đàn hồi strain hay tĩnh (static), bằng sự đè nén cơ học trên bề mặt cơ thể để làm mô trong sâu biến dạng. Người khám ấn vào mô và máy siêu âm tính toán rồi biểu diễn sự biến dạng một cách không thật; kỹ thuật này lại không định lượng được, có độ lập lại thấp và lệ thuộc vào người khám.






Bảng 1: Các kỹ thuật siêu âm đàn hồi của mô vú và mô mềm khác. Từ MENDELSON EB et al : Assessing Tissue Stiffness May Boost Breast Imaging Specificity, Diagnostic Imaging, December 2009, pp 15-17.



III.Đối tượng và Phương Pháp :

Đối tượng: Bệnh nhân khám vú tại MEDIC chọn ngẫu nhiên.

Phương pháp nghiên cứu: mô tả, cắt ngang, tiền cứu.

Phương tiện: Sử dụng máy siêu âm màu quy ước MEDISON đầu dò linear 10MHz, máy siêu âm đàn hồi Supersonic, đầu dò linear 15MHz, Core Biopsy và FNA đối chiếu.

Thời gian: từ tháng 11/2009 đến 11/ 2010 có tất cả 724 ca u vú được khảo sát.



IV.Kết quả:

Bảng 2:Phân bố giá trị độ đàn hồi của u vú lành tính và ác tính.

Nhận xét: Trong tổng số 724 ca:

- 568 ca u lành tính  (thay đổi sợi bọc, u sợi tuyến, u diệp thể)….. # 78 % (từ 4 đến 45 kPa), chỉ số đàn hồi ER từ 0,7đến 4,6.

- 156 ca ung thư vú ......................... # 22 % (từ 22 đến 300 kPa), chỉ số đàn hồi ER từ 3,3 đến 26,4.



Chú thích:

*kPa :độ cứng được đo bằng đơn vị kiloPascal

*ER (elastic ratio): tỉ lệ độ cứng của mô u so với mô lành bên cạnh


V.Bàn luận:

Các tiêu chuẩn chẩn đoán cho mỗi tổn thương vú là: hình dạng bản đồ màu, kích thước, tính đồng nhất, giá trị trung bình của độ đàn hồi và sự tương phản của độ đàn hồi giữa tổn thương và mô mỡ (ER, elastic ratio)

1.Trong số 156 trường hợp ung thư vú, đa số là hơn 40kPa, gần như chắc chắn ung thư vú khi độ cứng hơn 70kPa. Số còn lại rất ít (14 trường hợp) dưới 40kPa. Những trường hợp này lại có ER cao hơn 4 lần.

2.Phần lớn u lành tính tuyến vú có độ cứng quanh 20kPa. Số ít còn lại : 41 trường hợp (#7%) có độ cứng trên 20kPa nhưng thấp hơn 45kPa. Những trường hợp này là u sợi tuyến to, u diệp thể lành kích thước lớn, do đó tạo ra sức căng bề mặt lớn nên có độ cứng cao. Nhưng bản đồ màu không đồng nhất, chỉ cứng những vị trí gần đầu dò, vị trí xa hơn vẫn thể hiện màu xanh (mềm).

3.Với những u tuyến vú có phân loại BI-RADS II-III, có độ cứng thấp, tỉ lệ ER thấp, chúng ta bằng lòng với chẩn đoán u lành tính, chỉ theo dõi.

Với u có BI-RADS III cộng với độ cứng cao, chúng ta chuyển lên BI-RADS IV và chỉ định sinh thiết ngay.

Với BI-RADS IV cộng với độ cứng thấp chúng ta chuyển xuống BI-RADS III và theo dõi. Nếu chúng ta đã sinh thiết rồi, kết quả lành tính thì càng yên tâm hơn về không có âm tính giả.

Khi phân tích kết quả elastogram: kPa quá cao, chúng ta không cần bàn cãi nữa. Khi kPa thấp, chúng ta phải quan sát thêm tỷ lệ đàn hồi (ER).Tỷ lệ này càng cao thì khả năng ác tính cao.

4.Phân tich bản đồ màu trên hình SWE :

U lành tính:bản đồ màu nằm khoảng giữa màu xanh dương đến gần vàng ( từ mềm đến cứng) phân bố khá đồng nhất.

U ác tính: bản đồ màu lệch hẳn về phía màu vàng đến đỏ (cứng) và phân bố khá đồng đều từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới. Trung tâm bướu thường mềm hơn vì mô hoại tử.

Vì vậy chúng ta phải phối hợp tất cả những yếu tố ( kPa, ER và bản đồ màu) để có một chẩn đoán độ đàn hồi chính xác.

VI. Kết luận và Đề nghị:

Nên đặt vấn đề ứng dụng siêu âm đàn hồi sóng biến dạng (SWE) vào trong hệ thống BI-RADS, sau khi khảo sát về hình thái học, động học (Doppler) và cuối cùng là đo độ đàn hồi khối u để xếp hạng BI-RADS chính xác.

Đối chiếu với phân hạng BI-RADS: Nhiều tổn thương không xác định BI-RADS III và IV được tái phân hạng và giảm được việc sinh thiết khi có thêm đánh giá của SWE. Qua nghiên cứu này đã tăng độ nhạy và độ đặc hiệu đáng kể khi thêm các đặc điểm shear wave vào phân hạng BI-RADS.

Nên phân tích bản đồ màu để góp phần chẩn đoán phân biệt, chọn lựa vị trí sinh thiết (nên sinh thiết tại những vị trí cứng (màu đỏ), vì nếu lấy nhằm những vị trí hoại tử hay những ổ dịch (màu xanh dương hoặc mất tín hiệu) thì kết quả sẽ không phù hợp.

Sự tiến bộ của công nghệ siêu âm đã làm cho việc khảo sát độ cứng mô vú (phát hiện ác tính) trở nên đơn giản, chỉ như việc khám sàng lọc sức khoẻ ban đầu. Đối chiếu với lâm sàng và chụp nhũ ảnh, bệnh nhân được sinh thiết chỗ nghi ngờ dựa vào bản đồ đàn hồi nhằm phát hiện đúng các vị trí ác tính của khối u vú giúp quyết định xử trí thích hợp và kịp thời.

Khảo sát độ cứng mô vú bằng kỹ thuật siêu âm đàn hồi sóng biến dạng (SWE) kết hợp với siêu âm quy ước và sinh thiết chắc chắn sẽ làm tăng độ tin cậy chẩn đoán của siêu âm MEDIC trong bệnh lý u tuyến vú.

Tài liệu tham khảo:

1.  COSGROVE D.: Imaging Shear Waves for Sonoelastography, Imaging Technology News, June 2009.
2. KONOFAGOU E.E.: Quo vadis Elasticity Imaging? Ultrasonics, 2004 Apr; 42(1-9):331-336.
3. MENDELSON E.B. et al : Assessing Tissue Stiffness May Boost Breast Imaging Specificity, Diagnostic Imaging, December 2009, pp 15-17.
4. SOUQUET J. (2009): Taking Ultrasound to the Next Level with Shear Wave Elastography, Diagnostic Journal, Vol V No 4, pp 8-9.


ÉLASTOGRAPHIE AVEC ONDES DÉFORMÉES (SHEAR WAVE ELASTOGRAPHY, SWE) SUR 724 CAS DE TUMEURS DU SEIN.

Dr NGUYÊN QUY KHOANG  traduit en française
I. BUT D’ÉTUDE:

Depuis longtemps, l’échographie a été largement utilisée dans le diagnostic de la pathologie mammaire. En plus, la classification BIRADS a standardizé le diagnostic des tumeurs mammaires.

D’ après la classification BIRADS:

- le groupe BIRADS III comprend 4% des cancers mammaires avec surveillance sans faire de biopsie.

- le groupe BIRADS IV comprend de 4% à 92% de cas malins.

- le reste des malades a eu des interventions exagérées.

Dans le but d’augmenter la spécificité de l’échographie mammaire et d’éviter la dépendance de l’opérateur, la génération de SWE de sein est née.

C’est un nouveau domaine de l’échographie et cette technique a rendu la classification BIRADS III-IV plus exacte, c’est pourquoi, nous pouvons limiter les biopsies mammaires non nécessaires.

II. GÉNÉRALITÉS:

SWE de sein est une technique non invasive pour détecter la déformation ou le degré de rigidité de la tumeur. Souvent une tumeur maligne est plus rigide que le tissu normal de 4 à 26 fois. C’est une technique moins chère, plus rapide et plus facile à faire que d’autres techniques comme l’élastographie de la résonance magnétique (Magnetic Resonance Elastography, MRE).

La SWE de la compagnie Supersonic Imagine utilisée au centre de MEDIC de Hô Chi Minh Ville pour examiner le sein a une très bonne définition avec une sonde linéaire de 15MHz, le Doppler très sensible, la fonction de l’élastographie ne dépend pas de l’opérateur car on n’a pas besoin de faire la compression.
Cette technique est quantitative et reproductible.



Image 1: Cas de carcinome canalaire du sein. L’ échographie Doppler couleur montre que la tumeur ronde a des bords réguliers concordant au BIRADS III. Mais après l’examen avec le SWE Supersonic, la lésion devient BIRADS IV au point de vue B-mode et élastographie (la tumeur est rigide).

Image 2 : Carcinome mucineuse du sein.



La technique d’élastographie avec ultrasons déformés (SWE) est une interaction entre les ultrasons communs et les ultrasons déformés.Quand nous détectons une lésion, nous laissons la sonde échographique sur la peau sans faire de compression et nous pressons sur le bouton du tableau de l’ échographe.
Les ultrasons déformés ont une vitesse lente, moins de 10cm/seconde dans le tissu. Ils sont crées dans les tissus et captés par une technique d’imagerie super-rapide (ultrafast imaging). Tout ce processus dure moins de 20 secondes.
La vitesse de transmission des ultrasons déformés dépend directement de l’élasticité du tissu. Cette vitesse est mesurée et l‘élasticité tissulaire est visualisée en kilopascals (kPa) sur l‘ élastogram. La rigidité tissulaire est visualisée sur un spectre qui varie du rouge foncé (très rigide), puis orange, jaune, vert jusqu’au bleu (très souple). Chaque pixel sur l’ élastogram coloré a une valeur d’un kilopascal. Le rassemblement de tous les pixels représentant l’ élasticité du tissu en temps réel est visualisé sur l’écran de l’échographe.
La valeur de la rigidité tissulaire et le pourcentage de rigidité entre la lésion et le tissu normal avoisinant (souvent c’est le tissu adipeux) réprésentant l’indice d’élascité (elastic ratio) sont aussi visualisé sur l’écran.

Par contre, la technique d’élastographie conventionnelle est l’élastographie statique. Cette technique est basée sur la pression mécanique de la surface du corps pourque le tissu profond soit déformé. L’opérateur comprime le tissu et l’élastographe calcule et présente la déformation d’une façon non réelle. Cette technique n’est pas quantitative, a une reproductibilité faible et est dépendante de l’opérateur.

Image 2 : Mécanisme de l’élastographie des ultrasons déformés (SWE).

Tableau 1= Technique de l’élastographie du tissu mammaire et d’autres tissus mous.

Technique de l’élastographie du tissu mou in vivo :

+ Créer la déformation par l’ élastographie statique=

- Calcul de la concordance (Hitachi, Siemens)

- Calcul du Doppler tissulaire (Toshiba)

+ Créer l’ élastographie avec des ultrasons déformés=

-Pulsation des forces de radiation acoustique (ARFI) (Siemens)

- Créer l’élastographie avec ondes déformées (Supersonic Imagine)

III. MATÉRIEL et MÉTHODE=

- Matériel : Les malades venues au centre de Medic pour un dépistage de tumeur mammaire sont choisies par hasard.
- Méthode d’étude : Descriptive, coupe transverse, prospective.
- Moyens d’ examen :

+ Échographe couleur conventionnel de MEDISON avec sonde linéaire de 10MHz.

+ Échographe avec élastographie SUPERSONIC et sonde linéaire de 15MHz.

+ Core biopsy at FNA pour comparaison.

- Nombre de cas : 724 cas, de Novembre 2009 à Novembre 2010.

IV. RÉSULTATS

Tableau 2 : Valeur de l’ élastographie dans la tumeur bénigne et maligne du sein.

Remarque : Sur le total de 724 cas :

- 568 cas de tumeurs bénignes (changement fibrokystique, adénofibrome, tumeur phyllode (78%) (de 4 à 45kPa), indice d’élasticité ER de 0,7 à 4,6.

- 156 cas de tumeurs malignes (22%) (de 22 à 300kPa), indice d’élasticité ER de 3,3 à 6,4.

Notes :
kPa= la rigidité est mesurée en kilopascal.
ER (elastic ratio)= pourcentage de rigidité du tissu tumoral par rapport au tissu normal avoisinant.

V. DISCUSSIONS

Les critères de diagnostic pour chaque lésion mammaire sont= image de couleur, taille, homogénicité, valeur moyenne de l’élasticité, et le contraste de l’élasticité entre la lésion et le tissu adipeux (ER, elastic ratio).

1/ Sur 156 cas de cancer du sein, la plupart est de plus de 40kPa, quand la rigidité est de plus de 70kPa, le diagnostic de cancer est certain. Le nombre restant est moins (14 cas) en dessous de 40kPa. Ces derniers cas ont un ER élevé de plus de 4 fois.

2/ La plupart des tumeurs bénignes du sein ont une rigidité aux environs de 20kPa. Le reste =41 cas (7%) ont une rigidité entre 20kPa et 45 kPa. Ces cas là sont des changements fibrokystiques, tumeurs phyllodes de grande taille, elles provoquent une haute tension de la surface de la peau, c’est pourquoi, la rigidité est élevée. Mais l’élastogram n’est pas homogène, seulement rouge (rigide) près de la sonde tandis que bleu (souple) loin de sonde.

3/ À propos des tumeurs du sein de groupe BIRADS II-III avec rigidité basse et ER bas, nous acceptons le diagnostic de tumeurs bénignes, c’est pourquoi, il suffit de surveiller ces malades. Pour les tumeurs de BIRADS III avec rigidité élevée, nous les changeons en groupe BIRADS IV et la biopsie est impérative.
Pour les tumeurs de BIRADS IV avec rigidité basse, nous les changeons en groupe BIRADS III et nous les surveillons. Si la biopsie est négative, nous sommes plus assurés car il n’y a pas de faux négatif.

Quand on analyse les résultats d’élastographie=

• kPa trop élevée, pas de discussion.

• kPa basse, nous observons en plus l’indice d’élasticité (ER), si cet indice est élevé, la possibilité de malignité est haute.

4/ Analyse de l’élastogram sur le SWE=

- Tumeur bénigne : Elastogram est entre le bleu et le jaune (de la souplesse à la rigidité) avec assez d’homogénicité.

- Tumeur maligne : Elastogram penchant entre le jaune et le rouge (rigidité) avec homogénicité de dehors en dedans et de haut en bas. Le centre de tumeur est souvent plus souple à cause du tissu nécrotique. C’est pourquoi, nous devrions associer tous les facteurs (kPa, ER et élastogram) pour avoir un diagnostic d’élasticité sûr.

VI. CONCLUSION et SUGGESTION=

Il est conseillé d’utiliser l’élastographie avec ondes déformées (SWE) dans la classification BIRADS après une étude de la morphologie, l’hémodynamie (le Doppler) et enfin la mesure d’élasticité de la tumeur pour une classification BIRADS sûr.

En corrélation avec la classification BIRADS, l’élastographie SWE pourrait reclassifier les lésions suspectées de BIRADS III et IV, de cette façon nous pourrions diminuer le taux de biopsie et augmenter la sensibilité et la spécificité de la classification BIRADS.

Il est conseillé aussi de faire une analyse de l’élastogram pour le diagnostic différentiel et le choix de la localisation pour la biopsie. Il est préférable de biopsier dans les régions rigides (couleur rouge) car si nous faisons une ponction dans les régions nécrotiques ou liquidiennes (couleur bleue ou sans couleur), le résultat n’est plus concordant.

Le progrès de la technique d’élastographie a permet d’étudier la rigidité du tissu mammaire pour déceler la malignité. Ainsi, la technique est simple comme un examen de dépistage médicale au début. En corrélation avec la clinique et la mammographie, le medecin fait une ponction précise de la lésion mammaire grâce à l’élastogram, ainsi, il pourrait décider la conduite à tenir la plus appriopriée.

L’étude de la rigidité du tissu mammaire par la technique SWE associée à l’échographie conventionnelle et la biopsie fait augmenter sûrement la fiabilité du diagnostic de la pathologie mammaire au centre de Medic.

Image 3 : Adénofibrome, en accord avec BIRADS III sur le B mode et l’élastographie.

Image 4 : Carcinome canalaire du sein, échographie B mode en corrélation totale avec BIRADS III mais sur l’élastographie, la lésion est rigide.

Image 5 : Carcinome canalaire du sein, avec une haute résolution, on peut voir des microcalcifications groupée en masse. Élastographie= Rigidité de la lésion.

Không có nhận xét nào :