Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN RÁCH GÂN GÓT

SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN RÁCH GÂN GÓT




Khi bị rách gân gót bệnh nhân than đau đột ngột vùng gân gót và giảm chức năng toàn bộ.
Ngoài chấn thương, rách gân gót là biến chứng không thường gặp của việc dùng fluoroquinolones và corticosteroids.
Bệnh nhân thường kể cảm giác như bị đụng hay bị đá vào sau cẳng chân. Có thể nghe thấy tiếng răng rắc hay tiếng xé rách.










Với đầu dò linear hình ảnh siêu âm gân gót bình thường là một dải băng echo kém trong 2 dải echo dày. Bình thường gân gót dày 5-7mm theo đường kính trước sau trên mặt cắt ngang. Các bó gân là những dải echo kém và echo dày xen kẽ phân cách nhau khi giãn và cô đọng lại khi co.

Thường xảy ra rách ở vùng tương đối ít mạch máu nuôi, cách chỗ bám vào xương gót khoảng 2-6mm. Khi bị rách, gân tăng thể tích và dày lên khoảng 8-9mm (rách một phần), và không đồng dạng. Dấu hiệu đặc trưng nhất của rách gân gót là mất liên tục. Chỗ bị rách là vùng mất âm (acoustic vacuum) có bờ dày và không đều.


Siêu âm gân gót giúp phân biệt rách toàn phần hay một phần gân gót cũng như tình trạng viêm gân gót. Các dấu hiệu phụ của rách toàn phần : không tìm được gân (undetectable tendon) ở vị trí rách, gân co rút (tendon retraction), và  bóng lưng sau (posterior acoustic shadowing) ở đầu gân rách. Theo Phil Hartgerink và cs (2001) với 26 ca kiểm chứng sau mổ, độ chính xác của siêu âm là 92% khi phân biệt  rách toàn phần với rách một phần gân gót  và với viêm gân .

 



                           Rách toàn phần gân gót với  gân gót mất liên tục và 2 đầu rách xa nhau






                                                        Rách gân gót toàn phần lúc mổ
 

Rách gân gót T (cắt dọc)



                                                             Rách gân gót T (cắt ngang)


                                                        
                                                                    Rách gân gót một phần





Viêm gân gót



Trong một theo dõi 5 năm tình trạng chấn thương do vận động quá mức (functional overload injuries ) ở 52 vận động viên bóng bầu dục, với các tiêu chí internal fibrillar structure, focal hypoechoic areas, và calcifications trong gân gót và dây chằng bánh chè. Đối với gân gót, gân được đo theo trục dọc (axial scan) cả 2 bên, tư thế cổ chân sấp (prone) và gấp (flexed). Các đường kính bên-bên (latero-lateral) và trước sau (antero-posterior) là kích thước chính.
Sau 5 năm (2010), vùng echo kém trong gân gót tăng 32% (vào năm 2005 hypoechoic areas là 27%) và vôi hóa là 16% (vào năm 2005 vôi hóa là 15%).


Tác giả nhận thấy tần suất các vùng echo kém thoái hóa  và vôi hóa trong gân gót  của vận động viên vẫn gia tăng không có triệu chứng sau 5 năm theo dõi, ngay cả khi họ đã dừng những hoạt động có cường độ cao.


Theo Dr. Martini, Dr. Malliaras, và Dr. Wilson (University of Genoa, Italy), siêu âm cơ khớp nhạy với những thay đổi bệnh học của gân cơ hay thoái hóa gân cơ với tập luyện theo thời gian, tuy nhiên không cho phép tiên đoán ở bệnh nhân bị đau hay mất chức năng. Với câu hỏi liệu kích thước gân thay đổi chỉ do tập luyện mà không do nguyên do khác thí dụ như chấn thương, Dr Martini trả lời không rõ gân thay đổi là do tập luyện hoặc do vận động viên thường to và khỏe hơn người thường vì không đề cập trong báo cáo này, có lẽ phải đánh giá điều trên trong một nghiên cứu khác trong tương lai.


Tài liệu tham khảo chính:

 
1. Becky McCall (2011): Ultrasound Survey May Help Athletes Prevent Tendon Damage, European Congress of Radiology (ECR) 2011. Presented March 5, 2011.
2. Goubaa (2005): Rupture of the Achilles Tendon.
3. Phil Hartgerink, David P. Fessell, Jon A. Jacobson, Marnix T. van Holsbeeck (2001): Full- versus Partial-Thickness Achilles Tendon Tears: Sonographic Accuracy and Characterization in 26 Cases with Surgical Correlation, August 2001 Radiology, 220, 406-412.

Không có nhận xét nào :