Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

SUBHARMONIC IMAGING từ WFUMB 2011, Vienna

Tạo hình subharmonic (SHI) là phương thức mà xung âm phát đi ở một tần số trong khi hồi âm nhận lại chỉ còn phân nửa tần số đó. Gas microbubbles được dùng như chất tương phản mạch để tăng cường chất lượng tạo hình của siêu âm chẩn đoán.

Do trở kháng lớn giữa gas và máu xung quanh, chất tương phản làm tăng cường âm tán xạ nghịch (acoustic backscattering) và làm tăng cường tín hiệu lưu lượng Doppler và sinh echo thang xám (greyscale echogenicity) lên đến 27 dB.
Nhưng chất tương phản vi bọt (microbubble) không chỉ tăng cường các tín hiệu tán xạ nghịch,  như Prof.Goldberg chỉ ra, "ở áp suất âm cao hơn chất tương phản này tác động như các dao động phi tuyến tính (non-linear oscillators) bằng cách sản xuất các thành phần năng lượng đáng kể trong tín hiệu echo nhận, làm tăng khoảng tần số phát từ subharmonics qua ultraharmonics. Những bóng echo phi tuyến tính được tách ra từ echo mô và được sử dụng để tạo ra phương thức tạo hình tương phản đặc trưng cho phép dòng chảy trong các mạch máu nhỏ và mao mạch bao quanh bằng cách di chuyển mô (ví dụ như myocardial perfusion) để được phát hiện". Vì vậy, trên thực tế chất tương phản vi bọt sản xuất ra harmonics cao hơn harmonics của mô, do đó tạo hình harmonic cao có tiềm năng tạo ra tỷ lệ tương phản mô (contrast-to-tissue ratios) cao hơn.





Hình ảnh cho thấy một fibroadenoma lành tính được tạo hình trong các máy có chế độ SHI, tăng cường và hiển thị các tín hiệu tương phản hơn echo mô xung quanh bằng cách truyền ở tần số transducer cơ bản và nhận gấp đôi tần số đó.

Trong thuật ngữ chất lượng tạo hình có khác biệt đáng chú ý giữa tạo hình harmonic và subharmonic. Tạo hình harmonic (HI) là một phương pháp tiêu chuẩn về thương mại có sẵn trên tất cả các máy siêu âm cao cấp.
Theo Prof. Goldberg, SHI là một phương pháp bổ sung hữu ích chung cho HI: "trong khi HI tăng cường rõ rệt tín hiệu lưu lượng (đặc biệt là khi kết hợp với kỹ thuật đảo xung), tỷ lệ tương phản mô bị giảm ở áp suất âm cao do sự sinh tín hiệu phi tuyến tính chính trong các mô. Do đó, SHI là kỹ thuật thay thế hấp dẫn vì tạo subharmonic yếu hơn trong mô và sự tán xạ subharmonic đáng kể do chất tương phản". Khác biệt chính giữa chất lượng hình ảnh HI và SHI là tạo hình SHI này ngăn chặn hầu hết các tín hiệu từ mô để cải thiện tỷ lệ tương phản mô, nhưng thiếu các mốc giải phẫu, làm cho định hướng khó khăn.



SHI giúp phát hiện dòng chảy hơn là chi tiết giải phẫu học, ví dụ như trong phân biệt tổn thương của vú hoặc u ác tính khác tiềm tàng trong cơ thể người. Theo dõi điều trị cũng là nơi SHI cũng được sử dụng như khi echo mô là chủ yếu, chẳng hạn như trong tạo hình trong mạch máu và tạo hình các mạch máu rất nhỏ.

                                                                Prof. Barry Goldberg

Prof. Goldberg và nhóm của ông đang liên tục cải tiến và tìm tòi cách thức mới nhằm sử dụng những khả năng của SHI: "Nhóm của chúng tôi đã theo đuổi perfusion và đánh giá áp suất dựa trên SHI. Mới đây chúng tôi đã thông báo kết quả ban đầu của các số liệu đo áp lực SHI ở bệnh nhân cao áp tĩnh mạch Cửa, trông rất hứa hẹn. Gần đây cũng đã mô tả tham số SHI, nơi mà thông tin cường độ thời gian (time-intensity information) được mã hoá màu và hiển thị chồng lên hình siêu âm.

Hiện nay Prof. Goldberg và nhóm của ông đang làm việc trên một thử nghiệm lâm sàng bốn năm của SHI ở 450 phụ nữ với tổn thương vú, do đó, hoàn thành thử nghiệm này là rõ ràng là một trong những mục tiêu chính. Trong nghiên cứu này hiệu quả của 3D SHI sẽ được khảo sát lần đầu tiên, vốn chỉ được nghiên cứu trên động vật trước đây.

Không có nhận xét nào :