Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2011

WFUMB : Siêu âm Vú, phỏng vấn Prof. Mendelson

Siêu âm Vú


Vienna (18 tháng tám, 2011) - Có nhiều phương pháp siêu âm vú kiểm tra toàn diện: siêu âm B-mode với độ ly giải cao cho tổn thương chi tiết hình thái học, siêu âm màu và Doppler cho lưu lượng máu, và kỹ thuật elastography khá mới, đàn hồi biến dạng hoặc đàn hồi sóng biến dạng, mà dữ liệu lâm sàng hiện đang được thu thập để xác định mức đóng góp của siêu âm đàn hồi cho lâm sàng.
 Khi được hỏi về các chỉ định cho siêu âm vú giáo sư Mendelson cho biết đã  có hướng dẫn chuẩn hóa cho việc trả lời kết quả rõ ràng: "các chỉ định chính, và một danh sách hoàn chỉnh hơn trong hội nghị ACR (American College of Radiology) hồi tháng năm, 2011.  Hướng dẫn khám siêu âm vú, bao gồm xác nhận và phân loại dấu hiệu bất thường thấy được, hoặc nghi ngờ về lâm sàng,  hoặc tự kiểm tra, nhũ ảnh hay các phương thức khác như siêu âm xem lại (second look) cho tổn thương do MRI phát hiện và hướng dẫn sinh thiết qua da. Ngoài ra, kiểm tra phụ nữ với mô sợi tuyến (fibroglandular) đặc và có nguy cơ cao ung thư vú (với chính mật độ vú là một yếu tố nguy cơ), và đánh giá mức độ bệnh lan rộng, trong đó có vùng nách ở bệnh nhân ung thư vú, gần đây vừa được thêm vào."

Theo giáo sư Mendelson, siêu âm vú là phương thức CĐHA được chọn trong phân loại, đánh giá và cung cấp các chẩn đoán mô học các khối u cần làm sinh thiết. Siêu âm cũng được sử dụng để hỗ trợ một số phương pháp điều trị, chẳng hạn như dẫn lưu ápxe, ít xâm hại (invasive) hơn so với thủ thuật mổ hở .

Siêu âm đóng vai trò bổ sung quan trọng cho nhũ ảnh và giúp xác định mức độ lan rộng.Tuy nhiên, giáo sư Mendelson cũng chỉ ra một số ứng dụng khác của siêu âm cho nhũ ảnh: siêu âm là một bổ sung cho nhũ ảnh tầm soát ở phụ nữ mà mật độ sợi tuyến (fibroglandular) làm giới hạn độ nhạy của nhũ ảnh trong phát hiện u. Siêu âm cũng cần thiết để bổ sung cho nhũ ảnh trong mô tả đối xứng của cả hai vú và kiểu vi vôi hóa (microcalcifications) khó phát hiện hoặc nhận ra được trên tầm nhìn nhỏ của siêu âm; và quan trọng trong phân loại khối u. Siêu âm là phương thức khám đầu tay ở phụ nữ trẻ có triệu chứng, mang thai, hoặc bệnh nhân đang cho con bú."

Một bổ sung tuyệt vời cho siêu âm vú là khả năng tạo ra hình ảnh khối của toàn bộ vú bằng cách sử dụng phương thức 3D cung cấp mặt phẳng Z, chiều sâu như vậy gọi là mặt phẳng trước sau, khi khám bằng đầu dò cầm tay.

Tự động quét hiển thị hình B-mode (trục x), lateral view, của một  phụ nữ 42 tuổi bị ung thư, được xác  định bởi crosshairs trong acquisition view, và vertical view (trục y) và tái tạo coronal (z-axis). Thể hình kim hóa (spiculations) xung quanh  ung thư và vi vôi hóa (microcalcifications) trong phần trung tâm  được miêu tả trong coronal view ( hình thấp bên trái ).


Một lợi thế lớn của 3D là trong tự động quét thể tích, toàn bộ vú được thể hiện trong ba mặt phẳng; horizontal, vertical và coronal. Mặt phẳng coronal là mặt phẳng bình thường không liên kết với siêu âm vú 2D, nhưng hình tái tạo của toàn bộ vú sẽ hiển thị lại sự sắp xếp các ống tuyến xuyên tâm, làm dễ thấy cấu trúc biến dạng, giúp phân bố và định vị khối u, và dễ nhận ra tương quan với những phát hiện trên hình MRI coronal.

Chúng tôi cũng đã hỏi giáo sư Mendelson về các chủ đề nóng hiện nay trong lĩnh vực siêu âm vú : "Trong việc khám phát hiện, một chủ đề rất nóng là tầm soát ra sao và làm thế nào để tầm soát. Nhiều phiên bản của máy quét tự động đang được phát triển, và nghiên cứu trong lĩnh vực này rất tích cực. Quy trình làm việc (workflow) có ảnh hưởng quan trọng đến việc sử dụng siêu âm vú, và phương pháp xem lại hiệu quả của máy trạm (workstation) của hình 3D vẫn đang phát triển.'

Một chủ đề nóng khác, ở trên và vượt ra ngoài các tính chất hình thái của khối u, là đặc điểm kỹ thuật siêu âm đàn hồi elastography và các phương thức của nó. Trong tương lai elastography sẽ là một bổ sung hỗ trợ cho việc đánh giá khối u phát hiện tình cờ khi tầm soát, giúp làm giảm số sinh thiết dương tính giả vốn không có tác động đáng kể vào độ nhạy.

Không có nhận xét nào :