Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2011

TỔNG QUAN SIÊU ÂM SÀN CHẬU

Tóm tắt:
Bệnh lý sàn chậu hiện còn được ít khảo sát bằng các phương pháp tạo hình. Cộng hưởng từ bị hạn chế về niệu phụ khoa và  niệu khoa nữ giới vì phí tổn và cách tiếp cận vì là phương pháp tĩnh, không linh hoạt so với siêu âm sản phụ khoa, vốn không gặp giới hạn nào.
Translabial hay transperineal ultrasound giúp xác định residual urine; detrusor wall thickness; bladder neck mobility; urethral integrity; anterior, central, và posterior compartment prolapse; và giải phẫu học và chức năng cơ nâng hậu môn. Siêu âm sàn chậu chí ít tương đương với các phương pháp tạo hình khác về  urethral diverticula, rectal intussusception, mesh dislodgment, và avulsion các cơ puborectalis. Chỉ siêu âm mới có thể thể hiện được modern mesh slings và implants, và tiên lượng ai thực sự cần các implants này. Tổn thương cơ nâng hậu môn do chuyển dạ (delivery-related levator trauma) là yếu tố bệnh sinh quan trọng nhất của sa cơ quan chậu và khó chẩn đoán bằng siêu âm 3-/4-D và ngay cả siêu âm sàn chậu 2-D. Bài viết này cung cấp một tổng quan về phương pháp và cách sử dụng chủ yếu trong đánh giá lâm sàng và nghiên cứu.

Từ khoá: female pelvic organ prolapse, levator ani, pelvic floor, 3-dimensional ultrasound, translabial ultrasound


Download fulltext, xin kích vào đây:  Pelvic Floor Ultrasound




____________________________________

Xem lại SIÊU ÂM SÀN CHẬU 2-D
Từ Dietz, H. P. (2004), Ultrasound imaging of the pelvic floor. Part I: two-dimensional aspects. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology, 23: 80–92.

Tóm tắt

Tạo hình siêu âm nhanh chóng thay thế cho phương pháp quang tuyến trong việc khảo sát  các chứng rối loạn sàn chậu. Trong số các phương pháp transrectal, transvaginal/introital và transperineal/translabial đang áp dụng, phương pháp transperineal/translabial là phổ biến nhất, do dễ sử dụng và thiết bị có sẵn. Vị trí và tính di động của cổ bàng quang, dày vách bàng quang, hoạt động cơ sàn chậu và sa tử cung âm đạo (uterovaginal prolapse) có thể định lượng được, và Doppler màu được dùng ghi nhận chứng không kiểm soát đi tiểu do kích thích (stress urinary incontinence). Tạo hình siêu âm làm đơn giản hóa hoạt động kiểm toán và tăng cường hiểu biết về những ảnh hưởng của phẫu thuật chứng mất kiểm soát đi tiểu (incontinence) và sa sinh dục (prolapse), như các loại suburethral slings tổng hợp mới. Trong những năm gần đây, phương pháp tạo hình đã đóng góp đáng kể cho hiểu biết về những ảnh hưởng chấn thương do sinh đẻ trên sàn chậu. Cuối cùng, việc đánh giá của sinh cơ học sàn chậu có thể có tác động đối với sản khoa lâm sàng và cuối cùng cho việc phòng chống chấn thương sàn chậu do chuyển dạ.

Giới thiệu


Trong nhiều thập kỷ, bác sĩ làm việc trong lĩnh vực niệu phụ khoa và niệu học nữ đã gần như chỉ tập trung trên các thông số niệu động học thu được bằng cystometry và urethral pressure profilometry. Dữ liệu hình ảnh không còn liên quan trong khảo sát rối loạn của sàn chậu nữ. Ít nhất phần nào do hình ảnh kém chất lượng của chụp niệu đạo bàng quang tĩnh (static cystourethrography); chi phí cao của thiết bị soi huỳnh quang (fluoroscopy) có thể cũng là nguyên do thêm vào. Vì những phát hiện bằng phương pháp quang tuyến khó định lượng, bác sĩ chỉ đánh giá giới hạn về chất lượng của đường viền bàng quang, sa cổ bàng quang và funneling.


Sự sẵn có ngày càng tăng của siêu âm và cộng hưởng từ (MRI) hiện đã kích hoạt quan tâm mới trong chẩn đoán hình ảnh của niệu phụ khoa và niệu khoa nữ, với số lượng nghiên cứu hàng năm ngày càng tăng. Hầu hết việc hạn chế MRI  sử dụng  trong lâm sàng để đánh giá rối loạn sàn chậu là do chi phí và vấn đề tiếp cận, và cho đến rất gần đây, tốc độ thu nhận chậm (acquisition speed)  của MRI có ngăn trở việc tạo hình động. Vì những lý do trên, bài viết này sẽ giới hạn chỉ để thảo luận về tạo hình siêu âm trong niệu phụ khoa và niệu khoa nữ, cung cấp một bản cập nhật tóm tắt về phát triển và gợi ý các khu vực nghiên cứu trong tương lai.


Phương pháp cơ bản (Basic Methodology)


Với mặt cắt đường giữa sagittal bằng cách đặt đầu dò (thường là đầu dò curve 3.5–7-MHz) trên đáy chậu (hình 1), sau khi bọc đầu dò bằng găng tay hoặc Gladwrap ® hoặc tương tự để giữ vệ sinh. Tạo hình được thực hiện khi nằm ngữa (dorsal lithotomy), hông gấp và hơi dạng, hoặc bệnh nhân ở vị trí đứng. Bàng quang đầy nên được xác định; đối với một số ứng dụng thích hợp hơn là trước khi tiểu. Đầy trực tràng có thể làm giảm độ chính xác chẩn đoán và đôi khi phải khám lại sau khi tháo phân. Cần tách xa các môi (labia) để cải thiện chất lượng hình ảnh. Đầu dò được đặt áp vào khớp hàn mu và không gây khó chịu đáng kể. Hình ảnh thu được bao gồm symphysis ở phía trước, niệu đạo và cổ bàng quang, âm đạo, tử cung, trực tràng và kênh hậu môn (hình 1). Phiá sau chỗ nối hậu môn trực tràng có một khu vực echo dày là phần trung tâm của tấm cơ nâng (levator plate), tức là cơ mu trực tràng (puborectalis). Túi cùng cũng thấy được, với một lượng dịch nhỏ, echogenic fat hay nhu động ruột non. Mặt cắt parasagittal hoặc transverse có thể thêm thông tin bổ sung, ví dụ như cho phép đánh giá trực tiếp của cơ puborectalis, vốn cho đến nay chưa được khảo sát.


Hình 1. Khu vực tầm nhìn của siêu âm translabial/perineal trong mặt phẳng đường giữa sagittal.




Đã có bất đồng về hướng tối ưu của hình ảnh thu được trong mặt phẳng đường giữa sagittal,. Một số chuộng hướng hình ảnh như trong bệnh nhân đứng đối mặt, điều này phải đảo ngược hình ảnh trên máy siêu âm, không có sẵn phổ biến. Những người khác (bao gồm cả các tác giả) thích một hướng như trên siêu âm transvaginal quy ước (cranioventral bên T, dorsocaudal, bên P). Vì bất kỳ hình ảnh sao chép trong một trong những định hướng ở trên đều chuyển đổi được bằng cách xoay 180 °, nên không cần thiết tiêu chuẩn hóa chính thức.

Hình ảnh sàn chậu của đường tiểu dưới cho thông tin tương đương hoặc hơn khi chụp niệu đạo bàng quang bên (lateral urethrocystogram) (thể hiện trong hình 2, xoay 180 ° để dễ dàng so sánh) hoặc soi huỳnh quang. Nghiên cứu so sánh chủ yếu cho thấy tương quan tốt giữa dữ liệu quang tuyến và siêu âm. Một lợi thế còn lại của x-quang fluoroscopy là dễ quan sát giai đoạn đi tiểu, mặc dù một số đã sử dụng thiết bị đặc biệt vào dữ liệu đi tiểu bằng ultrasound. Các đoạn tiếp theo sẽ phác thảo phương pháp trong tương lai đầy hứa hẹn hơn hiện tại và tiềm năng sử dụng, cả trong lâm sàng và nghiên cứu.

Hình 2. Lateral urethrocystogram với chuỗi hạt đánh dấu niệu đạo. Hình ảnh được xoay 180 ° cho phép so sánh với hình siêu âm translabial tiêu chuẩn. Hình lúc nghỉ (a) và trong lúc làm Valsalva maneuver (b).

Current Uses in Gynecology


Vị trí và tính di động của cổ bàng quang và niệu đạo gần (Position and mobility of bladder neck and proximal urethra)

Vị trí cổ bàng quang và tính di động được đánh giá đáng tin cậy bằng siêu âm sàn chậu. Điểm tham chiếu là trục trung tâm của khớp hàn mu (symphysis pubis) hoặc bờ sau dưới (inferoposterior margin). Điểm trước có khả năng chính xác hơn vì phép đo độc lập với vị trí hoặc chuyển động đầu dò; tuy nhiên, vì vôi hóa của đĩa khớp hàn nên thường khó có được trục trung tâm ở phụ nữ lớn tuổi. Tạo hình có thể được thực hiện khi nằm ngữa hay đứng, và với bàng quang đầy hoặc trống. Bàng quang đầy ít di động hơn cơ quan trống và có thể ngăn sa cơ quan chậu. Trong vị trí đứng, bàng quang nằm thấp hơn lúc nghỉ nhưng đi xuống nhiều như khi bệnh nhân nằm ngữa trong nghiệm pháp Valsalva.




Thường đo lúc nghỉ và và khi làm nghiệm pháp Valsalva. Sự khác biệt giữa 2 cách đo cho giá trị số của cổ bàng quang đi xuống. Trong nghiệm pháp Valsalva, niệu đạo gần có thể được nhìn thấy  xoay theo hướng sau dưới . Phạm vi xoay có thể được đo bằng cách so sánh các góc nghiêng giữa niệu đạo gần đến bất kỳ trục cố định khác (hình 3). Một số tác giả đo góc retrovesical (hoặc posterior urethrovesical) giữa niệu đạo gần và tam giác bàng quang [trigone] (hình 3), những người khác xác định góc γ giữa trục trung tâm của khớp hàn mu và một đường từ bờ hàn mu dưới đến cổ bàng quang. Với tất cả tham số siêu âm của tăng động (hypermobility), cổ bàng quang đi xuống có liên kết mạnh nhất với urodynamic stress incontinence (USI). Tính lập lại (reproducibility) của việc đo dynamic này gần đây đã được đánh giá, với một hệ số biến thiên (% CV) là 0,16 giữa nhiều nghiệm pháp Valsalva hiệu quả, một % CV là 0,21 cho interobserver variability và một % CV là 0,219 cho một loạt các test–retest ở một khoảng thời gian trung bình là 46 ngày. Mối tương quan intraclass giữa 0,75 và 0,98, cho thấy có sự đồng thuận tuyệt vời.


Hình 3. Hình ảnh siêu âm sàn chậu (a) và đường vẽ (b) minh hoạ một số các thông số đo (khoảng cách bladder neck–symphyseal (BSD), độ nghiêng niệu đạo và góc retrovesical).
Không có định nghĩa của 'bình thường' cho cổ bàng quang đi xuống mặc dù một cut-off 2,5 cm đã được đề nghị để xác định hypermobility. Hình 4 cho thấy cổ bàng quang làm bất động (immobilized) sau colposuspension và hình 5 chứng tỏ những dấu hiệu siêu âm ở một bệnh nhân có cystourethrocele. Bàng quang đầy, tư thế bệnh nhân và thông tiểu tất cả được hiển thị để cho thấy ảnh hưởng đến việc đo và đôi khi khá khó khăn để làm nghiệm pháp Valsalva có hiệu quả, đặc biệt là ở phụ nữ chưa sinh đẻ. Có lẽ không ngạc nhiên lắm vì, đến nay, có nhiều báo cáo với những số đo tham khảo rất khác nhau ở phụ nữ chưa sanh [nulliparous]. Trong khi hai loạt bài gần đây cho thấy số trung bình hay số trung vị (median) của cổ bàng quang đi xuống chỉ có 5,1 mm và 5,3 mm ở phụ nữ continent nulliparous; một nghiên cứu khác, với 39 người continent nulliparous, có cổ bàng quang đi xuống trung bình là 15 mm. Số đo của tác giả là 1.2–40.2 (trung bình 17,3) mm trong một nhóm 106 ca người trẻ bị stress-continent nulligravid, tuổi từ 18–23. Có khả năng do phương pháp khác nhau, như tư thế bệnh nhân, bàng quang đầy và chất lượng của nghiêm pháp Valsalva (tức là việc kiểm soát cho confounders như là kích hoạt cơ levator đồng thời) tạo ra khác biệt trên. Việc chuẩn hóa nghiệm pháp Valsalva  không được áp dụng phổ biến vì điều này đòi hỏi đo áp lực ổ bụng, chẳng hạn như đặt một rectal balloon catheter. Các phương pháp khác, như dùng một spirometer, có khả năng làm suboptimal Valsalva maneuver; những áp lực được sử dụng trong một nghiên cứu mô tả việc sử dụng dụng cụ như vậy rõ ràng là không đủ để đạt được sự đi xuống tối đa hoặc thậm chí gần tối đa.



Hình 4. Đo vị trí của cổ bàng quang lúc nghỉ (a) và trong nghiệm pháp Valsalva (b). Điểm tham chiếu là bờ sau dưới inferoposterior của khớp hàn mu (mũi tên).






Hình 5. Dấu hiệu điển hình ở một bệnh nhân với stress incontinence và anterior vaginal wall descent [đi xuống vách trước âm đạo] (cystourethrocele Grade I): postero-inferior rotation của niệu đạo, mở góc retrovesical và funneling của niệu đạo gần (mũi tên).










Ở bệnh nhân stress incontinence, cũng như không có triệu chứng, tạo phễu [funneling] của lỗ niệu đạo trong có thể thấy trong nghiệm pháp Valsalva (hình 5) và đôi khi cũng thấy lúc nghỉ. Funneling thường liên kết với rò rỉ và thỉnh thoảng có echo thang xám yếu trong niệu đạo gần, gợi ý là dòng chảy nước tiểu và do đó, là incontinence trên Valsalva. Tuy nhiên, funneling cũng có trong urge incontinence và không thể được dùng để chứng minh USI. Funneling rõ được chứng minh là có kết hợp với áp lực đóng niệu đạo yếu (poor urethral closure pressures).


Các phân loại của tạo hình quang tuyến có thể áp dụng với dữ liệu siêu âm; tuy nhiên, nói chung, phương pháp này không được chấp nhận. Dấu hiệu phổ biến trong các trường hợp cổ bàng quang hypermobility được gọi là rotational descent của lỗ niệu đạo trong, tức là xoay niệu đạo gần và tam giác bàng quang [trigone] theo hướng dưới sau (posteroinferior). Thường góc retrovesical sẽ mở lên đến 160–180 ° từ một giá trị bình thường là 90–120 °, và sự thay đổi góc retrovesical như vậy thường (nhưng không phải luôn luôn) kết hợp với funneling. Cystocele với góc retrovesical còn nguyên vẹn (90–120 °) thường thấy ở bệnh nhân continent prolapse (hình 6), và được suy đoán cấu hình này phân biệt một trung tâm từ một khiếm khuyết từ ngoài vào trung tâm của endopelvic fascia mặc dù hiện nay còn thiếu bằng chứng cho giả thuyết này. Niệu đạo ngoằn ngoèo (urethral kinking) nhiều trong trường hợp này có thể dẫn đến rối loạn chức năng đi tiểu và ứ đọng nước tiểu (urinary retention). Occult stress incontinence có thể được phát hiện sau khi sửa chữa prolapse thành công giúp ngăn ngừa kinking này.


Hình 6. Cystocele với góc retrovesical còn nguyên vẹn. Lưu ý không có funneling (mũi tên).














Bệnh sinh của tăng cổ bàng quang đi xuống [bladder neck descent] có khả năng do đa yếu tố. Loạt các giá trị rộng thu được ở phụ nữ trẻ chưa sinh đẻ cho thấy do bẩm sinh, và một nghiên cứu đôi gần đây trên thực tế đã xác nhận mức độ cao của tính kế thừa [heritability] cho tính di động của thành trước âm đạo [anterior vaginal wall mobility]. Ngược lại, phương pháp tạo hình trong lĩnh vực này đã xác nhận vai trò của sinh con qua ngã âm đạo với chuyển dạ kéo dài thứ phát và chuyển dạ có phẫu thuật âm đạo có liên kết với tăng descent sau sinh. Điều này liên kết giữa tăng cổ bàng quang đi xuống và vaginal parity cũng hiển nhiên trong phụ nữ lớn tuổi với hội chứng mất chức năng sàn chậu. Đáng chú ý là những nghi ngờ quá trình chuyển dạ không độc lập với biomechanics sàn chậu đã được xác nhận: tính di động của thành trước âm đạo trên Valsalva là dự báo tiềm năng của sự chuyển dạ trong hai nghiên cứu độc lập.


Cổ bàng quang tăng tính di động trước sinh đã được tuyên bố là một dự báo của stress incontinence sau sinh và đã được sử dụng như tiêu chí cho một thử nghiệm can thiệp kiểm soát ngẫu nhiên. Tuy nhiên, tác giả đã không thể xác nhận dự báo này trong một loạt 200 phụ nữ sinh đẻ nhiều, một phần có thể là do phương pháp khác nhau (xem bên trên). Trong loạt trước, tăng tính di động cổ bàng quang trước sinh cho thấy parameter này có liên kết với ít thay đổi trong peripartum, hàm ý giảm nguy cơ chấn thương đến cơ cấu fascial và do đó có thể giảm nguy cơ stress incontinence về lâu dài. Rõ ràng, cần nghiên cứu thêm nữa trong lĩnh vực này.


Tư liệu về stress incontinence (Documentation of stress incontinence)

Chất tương phản (contrast media)

Những bất lợi chính của siêu âm B-mode trong niệu phụ khoa là thực tế khó phát hiện rò rỉ thực sự. Funneling [tạo phễu], tức là niệu đạo gần mở ra, dễ  thấy bằng tạo hình translabial hoặc transvaginal; tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, funneling cũng xảy ra ở phụ nữ không có triệu chứng và không thể lấy làm bằng chứng được cho USI. Giải pháp cho vấn đề này là sử dụng chất tương phản siêu âm, ví dụ như vi bọt (microbubbles) như Echovist ®, được chuẩn bị và tiêm vào bàng quang trước khi tạo hình, làm đầy vùng cổ bàng quang. Kỹ thuật này viền cổ bàng quang rất rõ nhưng chi phí đáng kể và phải đặt thông bàng quang.

Doppler Màu

Thay thế cho chất siêu âm tương phản, siêu âm Doppler màu gần đây đã được sử dụng để chứng minh sự rò rỉ nước tiểu qua niệu đạo trong nghiệm pháp Valsalva hoặc bằng cách ho. Các phương pháp này có hoặc không đặt ống thông mang lại kết quả khả quan. Đồng thuận giữa Doppler màu và fluoroscopy rất cao trong nhóm chứng với có catheters và thể tích bàng quang giống hệt nhau. Cả vận tốc (vận tốc Doppler màu (CDV), hình 7) và bản đồ hoá năng lượng [energy mapping] (Doppler màu năng lượng (CDE) hoặc 'power Doppler', hình 8) có thể ghi nhận được sự rò rỉ . CDV có nhiều khả năng để hiển thị kết quả dương tính, có lẽ do phân biệt chuyển động tốt hơn. Kết quả có ít flash artifact và định hướng tốt hơn, đặc biệt là bằng cách ho, mặc dù chất lượng hình ảnh sẽ phụ thuộc vào máy sử dụng và cách chọn cài đặt Doppler màu. Do đó, siêu âm routine (theo lệ) của stress incontinence trong nghiệm pháp niệu động lực học trở nên khả thi. Tạo hình Doppler màu cũng dễ ghi nhận áp lực đỉnh của điểm mất áp lực rò rỉ (leak point pressures). Có thực tế là phụ thuộc vào bác sĩ và sở thích của họ.

Hình 7. Vận tốc siêu âm Doppler màu (CDV) chứng minh nước tiểu rò rỉ (mũi tên) qua niệu đạo trong nghiệm pháp Valsalva.





Hình 8. Tạo hình Doppler màu năng lượng (CDE) trong chính stress incontinence. Các tín hiệu Doppler vạch ra phần lớn niệu đạo gần.

Dày vách bàng quang

Gần đây có quan tâm đáng kể trong định lượng dày vách bàng quang bằng transvaginal và/hoặc translabial ultrasound. Đo sau khi bàng quang trống và vuông góc với niêm mạc (hình 9). Thường có 3 nơi được đánh giá: vách trước, vùng tam giác (trigone) và vòm bàng quang, và tính trung bình cả ba. Vách bàng quang dày hơn 5 mm dường như có liên quan đến mất ổn định cơ detrusor (detrusor instability). Tăng dày vách bàng quang có khả năng phì đại cơ detrusor; đây có thể là nguyên nhân của hội chứng hoặc chỉ đơn giản là do tác động của một bất thường tiềm ẩn. Trong khi dày vách bàng quang tự nó có vẻ tiên đoán mất ổn định cơ detrusor vừa phải, phương pháp có thể rất hữu ích về lâm sàng khi kết hợp với các hội chứng của bàng quang tăng hoạt (overactive bladder). Vẫn còn tồn tại để xem việc xác định tham số này có thể thêm vào bất kỳ thông tin hữu ích lâm sàng nào không để khám một bệnh nhân với rối loạn chức năng của sàn chậu và của bàng quang.


Hình 9. Đo chiều dày bàng quang trong bệnh nhân với các triệu chứng của bàng quang tăng hoạt và mất ổn định cơ detrusor khi thử nghiệm niệu động học trong mặt cắt parasagittal.




Hoạt động cơ nâng hậu môn

Siêu âm sàn chậu đã được sử dụng để định lượng của hoạt động cơ sàn chậu, cho cả phụ nữ stress incontinence và continent controls, trước và sau khi sinh con. Lệch trước trên (cranioventral) các cơ quan chậu trong mặt cắt trước sau trên đường giữa là bằng chứng của co thắt cơ nâng. Dời chỗ của lỗ niệu đạo trong được đo so với bờ hàn mu sau dưới [margin symphyseal inferoposterior] (hình 10). Bằng cách này hoạt động sàn chậu được đánh giá tại cổ bàng quang mà hiệu quả của nó như là một phần của cơ chế kiểm soát và rất có thể có liên quan (relevant). Nó cũng có thể được dùng cho huấn luyện tập cơ sàn chậu và cung cấp trực quan tác dụng biofeedback. Kỹ thuật đã giúp xác nhận khái niệm về 'knack', tức là phản xạ co cơ levator ngay lập tức trước để gia tăng áp lực trong ổ bụng chẳng hạn như khi ho. Mối tương quan giữa lệch cranioventral của cổ bàng quang một bên và palpation/perineometry một bên đã được hiển thị là tốt.

Hình 10. Định lượng co cơ levator: lệch cranioventral cổ bàng quang được đo tương đối với bờ hàn mu sau dưới (symphyseal inferoposterior margin). Các phép đo chỉ ra 4,5 (31,9 — 27,4) mm của dời chỗ lên trên và 16.2 (17,9 — 1,7) mm của dời chỗ cổ bàng quang ra trước .






Định lượng sa sinh dục (Prolapse quantification)


Siêu âm translabial có thể chứng minh sa âm đạo tử cung [uterovaginal prolapse]. Bờ dưới của khớp hàn mu được dùng làm đường tham chiếu để đo bàng quang đi xuống tối đa, tử cung, túi cùng và bầu trực tràng [ampulla] có thể đo trong nghiệm pháp Valsalva cơ động (hình 11). Hình 12 cho thấy sa tử cung độ 1 sau Burch colposuspension. Trong một nghiên cứu gần đây, dấu hiệu siêu âm được so sánh với định giai đoạn lâm sàng và các kết quả của một đánh giá chuẩn hóa theo tiêu chuẩn của International Continence Society cho thấy có tương quan tốt giữa ngăn trước và ngăn trung tâm (anterior and central compartments). Trong khi có tương quan kém hơn giữa ngăn sau giữa trong đánh giá lâm sàng và siêu âm, có thể phân biệt giữa rectocele 'thật' và 'giả' , là một khiếm khuyết thực sự của fascial của rectovaginal septum (hình 11) và perineal hypermobility mà không có khuyết tật fascial. Khuyết tật fascial đúng của rectovaginal septum trong thực tế có khoảng 10% của phụ nữ trẻ chưa sanh [nulliparous] (hình 13), nhưng phổ biến hơn ở phụ nữ lớn tuổi hơn, sanh nhiều [parous],. Từ kinh nghiệm tạo hình đến nay, khuyết tật fascial dường như phát sinh hầu như luôn luôn cùng một vùng, tức là rất gần với anorectal junction, và phổ biến nhất là ngang. Rất nhiều là asymptomatic. Hy vọng rằng việc xác định những khiếm khuyết fascial ngăn sau sẽ cho phép xử trí phẫu thuật tốt hơn trong tương lai, vì enterocele (hình 14) có thể  phân biệt được với rectocele. Gần đây, bác sĩ phẫu thuật đại trực tràng đang bắt đầu sử dụng kỹ thuật để bổ sung hoặc thay thế cho defecography.


Hình 11. Siêu âm định lượng uterovaginal prolapse. Bờ dưới khớp hàn mu dùng như một đường tham khảo để đo bàng quang đi xuống tối đa, tử cung, túi cùng và bầu trực tràng trong nghiệm pháp Valsalva .




 



Không có nhận xét nào :