Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

VISCERAL ADIPOSITY

The clinical importance of visceral adiposity: a critical review of methods for visceral adipose tissue analysis,  A SHUSTER,  M PATLAS, J H PINTHUS, and  M MOURTZAKIS, The British Journal of Radiology, 85 (2012), 1–10

Tóm tắt:

Như là kết quả của gia tăng bệnh béo phì thành dịch, hiểu biết về phân phối mỡ cơ thể và ý nghĩa lâm sàng của nó là rất quan trọng để điều trị kịp thời. Mô mỡ nội tạng là thành phần hoạt động kích thích tố của mỡ cơ thể, có đặc tính sinh hóa độc đáo có ảnh hưởng đến một số tiến trình bình thường và bệnh lý trong cơ thể. Mô mỡ nội tạng lắng đọng cao bất thường được gọi là béo phì nội tạng. Kiểu hình thành phần cơ thể này liên kết với các rối loạn nội khoa như hội chứng chuyển hoá, bệnh tim mạch và một số bệnh l‎í ác tính gồm ung thư tuyến tiền liệt, vú và đại trực tràng. Đánh giá định lượng của béo phì nội tạng là quan trọng đối với việc đánh giá nguy cơ tiềm tàng phát triển của những bệnh l‎í này, cũng như tiên lượng chính xác. Bài này nhằm mục đích so sánh các phương pháp khác nhau để đo béo phì nội tạng và những thuận lợi và nhược điểm trong thực hành lâm sàng.




Mô mỡ cơ thể theo truyền thống được phân phối vào hai ngăn chính với các đặc điểm biến dưỡng khác nhau: mô mỡ dưới da (subcutaneous adipose tissue, SAT) và mô mỡ nội tạng (visceral adipose tissue, VAT). Cả hai loại mô này đều quan trọng, nhưng tình trạng béo phì nội tạng (visceral adiposity) được đặc biệt chú ý trực tiếp vì kết hợp nhiều bệnh l‎‎‎‎‎í nội khoa khác nhau.


Siêu âm là kỹ thuật thích hợp để ước tính mô mỡ dưới da và trong bụng. Thời gian cần thiết để đo rất ngắn, nhưng độ chính xác và tính lập lại kém. Bellisari và cs đã chứng minh rằng siêu âm đo đạc về mô mỡ trong bụng có hệ số biến thiên là 64% và do đó khuyến cáo không nên dùng siêu âm đo mỡ nội tạng. Một số nghiên cứu đã cho thấy có tương quan tốt giữa số đo siêu âm và CT lượng mô mỡ trong bụng, cũng như tính hữu dụng của siêu âm trong chẩn đoán béo phì tạng. Đánh giá của siêu âm về mô mỡ trong bụng đầu tiên do Armellini và cs, cho thấy tương quan giữa siêu âm và CT là 0,68–0,74 (khá tốt).


Tuy nhiên, có thể sử dụng siêu âm để ước tính tỷ lệ của độ dày của lớp mỡ trước phúc mạc ( từ mặt trước của gan đến đường trắng giữa bụng, linea alba) và mỡ dưới da bụng, được gọi là chỉ số mỡ thành bụng (abdominal wall fat index, xem hình 2).

Chỉ số này được so sánh với tỷ lệ  VAT- SAT của CT và có tương quan dương tính với các mức độ triglyceride huyết thanh và tương quan nghịch với high-density lipoprotein. Các kết quả này gợi ý rằng các chỉ số mỡ thành bụng đo bằng siêu âm có thể dự đoán lắng đọng mỡ nội tạng và cuối cùng dự đoán rối loạn chuyển hoá liên quan đến biến dưỡng lipid và glucose. Việc sử dụng siêu âm để đo độ dày nội tạng từ bờ sau cơ bụng đến động mạch chủ bụng (hình 2),  cột sống thắt lưng hoặc cơ psoas có cũng tương quan tốt với VAT được đo bằng  CT (r = 0,669, p > 0,001), cũng chứng minh rằng siêu âm có thể hữu ích trong việc đánh giá mô mỡ trong bụng.



Tuy nhiên, cần thận trọng khi đọc kết quả đo vì tuỳ thuộc với kinh nghiệm và khả năng của người nghiên cứu. Cần có phương pháp siêu âm đánh giá khách quan về VAT và có tính lập lại trong các khảo sát về sau.




Tạo hình siêu âm đánh giá độ lớn tổng quát của mô mỡ trong bụng dễ dàng nhưng rõ ràng có giới hạn về độ tin cậy. Các kỹ thuật siêu âm vẫn còn phụ thuộc người khám trong định lượng thành phần cơ thể. Với máy siêu âm sẵn có, với các biện pháp phòng ngừa phù hợp cho giao thức khám để thúc đẩy sự đồng bộ, siêu âm có thể đo tình trạng béo phì nội tạng một cách thiết thực.

SIÊU ÂM KHÔNG THỂ TIÊN ĐOÁN GAN THẤM MỠ Ở TRẺ BÉO PHÌ NẶNG

US Cannot Be Used to Predict the Presence or Severity of Hepatic Steatosis in Severely Obese Adolescents, Anneloes E. Bohte, Bart G. P. Koot, Olga H. van der Baan-Slootweg, Jochem R. van Werven, Shandra Bipat, Aart J. Nederveen, Peter L. M. Jansen, Marc A. Benninga, and Jaap Stoker, Radiology January 2012 262:327-334; Published online November 21, 2011.

SIÊU ÂM KHÔNG THỂ TIÊN ĐOÁN GAN THẤM MỠ Ở TRẺ BÉO PHÌ NẶNG

Trong một nhóm 104 trẻ em (47 nam và 57 nữ), tuổi bình quân 14,5 (từ 8,3- 18,9) với cho điểm trung bình BMI hiệu chỉnh theo tuổi (BMI z score) là 3,3 (từ 2,6-4,1). Siêu âm gan thấm mỡ ở trẻ béo phì được đối chiếu với cộng hưởng tử phổ cho thấy tần suất của substantial steatosis là 15,4% với độ nhạy siêu âm là 75%, độ chuyên biệt là 87,5%, giá trị tiên đoán dương và âm là 52,2% và 95,1%.


Tuy nhiên, kết quả siêu âm dương tính không thể được dùng để tiên đoán chính xác trẻ béo phì có gan thấm mỡ và độ nặng của nó, mà cần thêm phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác. Trong khi đó kết quả siêu âm âm tính loại trừ gan thấm mỡ có độ chính xác chấp nhận được.


Abstract

Purpose: To evaluate the diagnostic accuracy of ultrasonography (US) for the assessment of hepatic steatosis in severely obese adolescents, with proton magnetic resonance (MR) spectroscopy as the reference standard, and to provide insight on the influence of prevalence on predictive values by calculating positive and negative posttest probabilities.

Materials and Methods: This prospective study was institutional review board approved. All participants, and/or their legal representatives, gave written informed consent. Sensitivity, specificity, positive predictive value (PPV), and negative predictive value (NPV) were calculated for the overall presence of steatosis and for the presence of substantial (moderate to severe) steatosis. Positive and negative posttest probabilities were calculated and plotted against prevalence.

Results: A total of 104 children (47 male, 57 female) were prospectively included. Mean age was 14.5 years (range, 8.3–18.9 years) and mean age–adjusted standard deviation body mass index (BMI) score (BMI z score) was 3.3 (range, 2.6–4.1). The overall prevalence of hepatic steatosis was 46.2% (48 of 104). Sensitivity of US was 85.4% (41 of 48), specificity was 55.4% (31 of 56), PPV was 62.1% (41 of 66), and NPV was 81.6% (31 of 38). The prevalence of substantial steatosis was 15.4% (16 of 104), with US sensitivity of 75.0% (12 of 16) and specificity of 87.5% (77 of 88). PPV was 52.2% (12 of 23) and NPV was 95.1% (77 of 81). Plotting of posttest probabilities against prevalence for both disease degrees demonstrated how disease prevalence influences US accuracy.

Conclusion: Positive US results in severely obese adolescents cannot be used to accurately predict the presence and severity of hepatic steatosis, and additional imaging is required. Negative US results exclude the presence of substantial steatosis with acceptable accuracy. Steatosis prevalence differs among specific populations, strongly influencing posttest probabilities.

© RSNA, 2011