Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2022

HÌNH ẢNH SIÊU ÂM PHỔI SAU NHIỄM COVID-19 3 THÁNG

TỔNG QUAN

Hiện chưa có bài báo nào về khám kiểm tra siêu âm phổi [LUS] sau nhiễm COVID-19  tại thành phố HCM và y văn nước ngoài. Trong giai đoạn hậu nhiễm COVID-19, chúng tôi đã triển khai việc theo dõi và ghi nhận lại kết quả LUS sau nhiễm 3 tháng COVID-19 tại MEDIC Hòa Hảo.

MỤC TIÊU

Ghi nhận tổn thương phổi tồn tại bằng siêu âm phổi (LUS) dựa theo đề nghị của Rouby bằng cách khảo sát 12 vùng của 2 phổi P và T và sau đó tính điểm LUS Score total.

PHƯƠNG PHÁP

Khảo sát tiền cứu mô tả và cắt ngang những bệnh nhân và gia đình có nhiễm COVID-19 nay đã có xét nghiệm RT-PCR âm tính, tự đến khám tại MEDIC Hòa Hảo.

Thực hiện khám LUS chuẩn hóa với tinh chỉnh hệ số mechanical index MI <0,7, tắt tất cả các bộ lọc  như Harmonic và S-Harmonic, THI… tùy theo hãng máy siêu âm có tại MEDIC.

 


Phối hợp với X-Quang và CT nếu có yêu cầu của bệnh nhân và bác sĩ lâm sàng.

Thống kê nhân thân và bệnh sử theo MedCalc v. 20. Hồ sơ được lưu trữ điện toán hóa và truy cập qua mã QR code của MEDIC cho từng bệnh nhân.

 

KẾT QUẢ

 

Từ cuối tháng 8 năm 2021 đến cuối tháng 12/2021, báo cáo này gồm 70 người [48 nam và 22 nữ], tuổi từ 34-60, trung bình  sau nhiễm COVID-19 khoảng 90 ngày, trong đó có 11 nhân viên nữ của khoa siêu âm. Tất cả đều có thời gian cách ly và điều trị trong bệnh viện, đều có khó thở mức độ trung bình. Số người nhiễm COVID-19  sau chích ngừa mũi 2 # 20 trường hợp.

 

Hình ảnh LUS  sau nhiễm COVID-19 của nghiên cứu này gồm còn tồn tại dày màng phổi có gián đoạn [70/70 ca], lightbeam [20/70ca], subpleural consolidation nhỏ dưới 20mm [38/70 ca]. Đa số phát hiện tồn tại tổn thương ở vùng phổi sau bên [posterior lateral] cả 2 phổi. Phần lớn thương tổn thuộc  nhóm C và D theo phân loại thống nhất hiện nay, có LUS Score total bình quân # 11.

 Lúc khám LUS các bệnh nhân đều than phiền còn khó thở, mệt ít. Nhiều  bệnh nhân khai báo bị tê vùng lưng và đau cơ, rụng tóc [nữ 40%], nổi mày đay, nổi mụn, viêm nang lông, sọc gờ móng tay. Tất cả đều trong quá trình hồi phục dần.

 

BÀN LUẬN

 

Hình ảnh LUS trong nhiễm COVID-19  đã được mô tả bởi nhiều tác giả, được hệ thống hóa vùng khám, và định lượng bằng cách cho điểm theo phân loại thống nhất (4 loại A B C D) và thang điểm 0 1 2 3, như đã đề cập. Có tác giả nhận xét rằng hình ảnh siêu âm LUS trong nhiễm COVID-19 rõ nhất khoảng 2 tuần sau khởi phát rồi kém rõ dần. 

Trong nhóm bệnh sau nhiễm COVID-19 tại MEDIC, chúng tôi  dựa theo phân loại và thang điểm định lượng trên. Tất cả dều được khám LUS trước khi làm xét nghiệm cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh khác.

Sau nhiễm COVID-19  hình ảnh siêu âm phổi gồm những tổn thương tồn tại nhỏ như dày màng phổi, lightbeam, small subpleural consolidation thường ở vùng phổi đáy sau bên [posterior lateral] cả 2 phổi. LUS Score total #11 trong đa số 65/70 ca cho thấy mức độ các thương tổn tồn tại này không cần can thiệp và không ảnh hưởng nhiều đến chức năng sống sau nhiễm COVID-19.

Dày màng phổi và dày màng phổi gián đoạn [dotted] thường gặp trong viêm phổi COVID-19  và một số bệnh lý khác. Dày lá thành và cả lá tạng màng phổi. LUS xác định dày màng phổi với bề dày <10mm. Giá trị cut-off của xơ hoá phổi nhẹ là dưới 2,4 mm theo Manelescu 2020.  B-lines và lightbeam xuất hiện cùng với dày màng phổi trong viêm phổi mô kẽ, qua giai đoạn cấp từ 10-12 ngày ít gặp lightbeam hơn.

Đông đặc phổi (consolidation) trong COVID-19  thường ở cạnh [subpleural nodule] màng phổi dày, với dạng nốt nhỏ tròn echo kém, có khi xếp thành dãy, ít gặp hơn trong giai đoạn post COVID-19  và không giới hạn rõ ở giai đọan sau viêm phổi. Khi phổi viêm, vùng đông đặc có dạng 3 cạnh, echo kém và tương đương với tổn thương kính mờ trên CT. Những đông đặc nhỏ dạng nốt trong giai đoạn cấp dường như có liên quan đến vi huyết khối trong nhu mô phổi khi thực nghiệm trên sinh vật.  Trong báo cáo này có 2 trường hợp nhầm với tổn thương u phổi và u nấm phổi, vì chúng không ở sát ngay dưới màng phổi bị dày.

Những đông đặc nhỏ dạng nốt, thường ở ngay dưới màng phổi, echo kém, đường viền không rõ trong giai đoạn sau nhiễm COVID-19 kèm theo dày màng phổi gián đoạn ở vùng đáy phổi sau [vùng 5,6].

Tuy nhiên LUS không thể phát hiện những tổn thương phổi sâu hơn 10 cm.

 Dù vậy bệnh nhân vẫn than phiền còn khó thở nhất là khi gắng sức; cần tìm thêm cách xác minh. Các nghiên cứu nước ngoài giải thích là do tự kháng thể tấn công vào phổi giống như bệnh tự miễn, nên diễn tiến tổn thương thầm lặng dần dẩn đến hoá xơ. Thường bệnh nhân có phản ứng miễn dịch mạnh thì phản ứng xơ hóa sẽ mạnh.

Một số bệnh nhân trong nghiên cứu này có chụp X-quang [31 ca] và CT [09 ca]. Tuy nhiên số kết quả tương hợp với LUS  ghi nhận được là thấp.

Có 09/70 ca LUS có chụp CT, 06 ca phù hợp tổn thương phổi do COVID-19 [06/70 ca].

 

Kết quả CT

COVID-19

TB

K phổi

Khác [u nấm phổi]

Tổng cộng =   09      

06

01

01

01


Có 31/70 ca LUS có chụp X-quang phổi, 26 ca không ghi nhận có tổn thương phổi COVID-19,  04 ca viêm phổi trong đó 01 ca có tràn dịch màng phổi, ca này CT xác nhận thuyên tắc phổi thùy dưới 2 bên do nhiễm COVID-19 và D-dimer tăng cao. Chỉ có 02/31 ca X-quang  phổi nghi COVID-19.

 

Kết quả X-quang

COVID 19 

VP + TDMP

TB xơ thâm nhiễm thùy trên 2 bên

KHÁC [U NẤM ĐỈNH PHỔI]

Âm tính COVID19

 Tổng cộng= 31

02

02

01

26


Tại Medic, kết quả LUS và X-quang phổi cũng như CT chưa có đồng thuận cao; y văn cho biết X-quang phổi COVID-19 chỉ nhạy khoảng 17% so với LUS. Do bản chất siêu âm tùy thuộc người làm LUS nên cũng ghi nhận đây như một yếu tố giúp giải thích sự thiếu tương hợp giữa LUS với X-quang.





Cần chờ đợi kết quả của những nghiên cứu khác post COVID-19 với cỡ mẫu lớn hơn.







  

KẾT LUẬN

 

Với 70 ca  sau nhiễm COVID-19 đến khám tại MEDIC, chúng tôi ghi nhận có tồn tại tổn thương phổi mức độ nhẹ, đa số có LUS Score total #11, sau 3 tháng nhiễm COVID-19 các tổn thương phổi này [như dày màng phổi và đông đặc nhỏ] trở nên không rõ và thu nhỏ dần. Hình ảnh siêu âm LUS chưa tương hợp với CT và X-quang phổi là điều nên khảo sát thêm với số liệu lớn hơn.

Giới hạn của chúng tôi là một sơ kết cục bộ với số liệu còn ít và chưa đồng thuận với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác.

Cần tiếp tục khám LUS ở các mốc 3,6,12 tháng cho những bệnh nhân có khó thở trong giai đoạn cấp và hồi phục và đối chiếu với các nghiên cứu lớn, đa trung tâm để đánh giá đầy đủ khả năng của LUS trong viêm phổi COVID-19 và hậu COVID-19.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

Jaime Gil-Rodríguez et al: Ultrasound findings of lung ultrasonography in COVID-19: A systematic review,  Europeen Journal of  Radiology, Review Article,| Volume 148110156MARCH 01, 2022. Available online 20 January 2022 0720-048X/© 2022 Elsevier B.V. All rights reserved. 

Markus H. Lerchbaumer et al: Point‑of‑care lung ultrasound in COVID‑19 patients: inter‑ and intra‑observer agreement in a prospective observational study, Scientifc Reports | (2021) 11:10678 | https://doi.org/10.1038/s41598-021-90153-2.

 
Giovannettia G et al: Lung ultrasonography for long-term follow-up of COVID-19 survivors compared to chest CT scan,  Respiratory Medicine 181, March 2021 https://doi.org/10.1016/j.rmed.2021.106384

McDermott C et al: Combatting COVID-19: is ultrasound an important piece in the diagnostic puzzle? Emerg Med J, 2020 Oct;37(10):644-649. doi: 10.1136/emermed-2020-209721. Epub 2020 Sep 9.   

Vetrugno et al : The “pandemic” increase in lung ultrasound use in response to Covid-19: can we complement computed tomography findings? A narrative review, Ultrasound J (2020) 12:39  https://doi.org/10.1186/s13089-020-00185-4.

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022

POCUS on par with x-ray for COVID-19 diagnosis, management


By Amerigo Allegretto, AuntMinnie.com staff writer

January 21, 2022 -- Point-of-care ultrasound (POCUS) for lung imaging is noninferior to chest x-ray when it comes to diagnosing COVID-19, according to an Italian study published January 18 in the Journal of Ultrasound in Medicine.

A team led by Dr. Costantino Caroselli from the National Institute of Rest and Care for the Elderly in Ancona found that ultrasound characteristics seen in COVID-positive patients included B-lines, irregular pleural lines, and small consolidation.

"Lung ultrasound holds the promise of an accurate, radiation-free, and affordable diagnostic and monitoring tool in COVID-19 pneumonia," Caroselli and colleagues wrote.

Lung imaging is an important tool in helping diagnose and manage COVID-19 in patients. Previous studies have shown ultrasound's promise in determining early lung involvement in patients while preventing radiation exposure.

However, the researchers said that the lack of a unified approach for POCUS among clinicians is keeping this method from wider use. They added this is caused by a lack of data on patient outcomes and lung ultrasound having a lower specificity than chest x-ray.

Caroselli's team wanted to show how useful ultrasound is in diagnosing lung disease early in COVID-positive patients and compare their results to findings on chest x-ray. They looked at data from 479 patients, 82.7% of whom were diagnosed with COVID-19 by molecular testing.

Lung POCUS was performed by trained emergency physicians on patients presenting for possible COVID-19 evaluation before they underwent conventional radiologic examination or while they were waiting for the report.

Most common findings on lung POCUS in COVID patients
B-lines80.2%
Irregular pleural lines59.3%
Small subpleural consolidations55.3%

Chest x-rays were found to be normal, meanwhile, in 17.9% of all cases.

The team also tested the prognostic capabilities of lung POCUS. Pleural effusion, small consolidation, male sex, and clinical history were associated with hospital admission rate. However, x-ray outcomes were not associated with this rate.

Both POCUS and x-ray have significant roles in determining the need for orotracheal intubation for patients, the study authors wrote. Lung ultrasound small consolidation, x-ray ground glass, and x-ray interstitial pattern were found to be linked to patients needing invasive mechanical ventilation.

Meanwhile, pleural effusion found on ultrasound and x-ray small consolidation were the only predictors of mortality.

The researchers wrote that lung POCUS could help clinicians rapidly evaluate and triage patients as coronavirus surges persist.

"Our analysis confirmed that, as well as supporting COVID-19 diagnosis, lung ultrasound was useful in prognostic stratification relating to the need for hospitalization, orotracheal intubation, and mortality among the patients studied," they wrote.

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2022

Siêu âm, người phục vụ toàn bộ dân số sau đại dịch COVID-19

 Ultraschall, der Handwerker im Dienste der gesamten Bevölkerung nach der COVID-19-Pandemie

Fabio Piscaglia, Bernardo Stefanini,Vito Cantisani



Kể từ khi công nghệ siêu âm B-mode ra đời khoảng 40 năm trước, phương pháp siêu âm đã phát triển nhiều nhất và đã vượt qua sự phát triển của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác như CT hoặc MRI . Siêu âm hiện nay được sử dụng thường xuyên, đáp ứng nhu cầu của toàn bộ bệnh nhân. Các bài báo được xuất bản trong số này của tạp chí là một ví dụ minh họa rất rõ ràng về tính linh hoạt đó. Ví dụ, nếu chúng ta xem xét độ tuổi của dân số, những bài báo này cho thấy siêu âm được sử dụng thường xuyên với lợi ích to lớn ra sao tại bất kỳ thời điểm nào của cuộc đời con người. Việc sử dụng siêu âm khám từ giai đoạn rất sớm, trong tử cung trước khi sinh [ 1 ], chuyển sang thời kỳ chu sinh [ 2 ], thời kỳ trưởng thành [3 ] [ 4 ], thời gian mà CT hoặc MRI ít được sử dụng và cuối cùng là bệnh của người cao tuổi, chẳng hạn như chứng mất trí nhớ Alzheimer [ 5 ]. Không chỉ các ứng dụng của siêu âm bao gồm toàn bộ cuộc sống con người về mặt thời gian, mà kích thước và giá cả của máy siêu âm còn từ các máy cao cấp nhất, [tương đối lớn chỉ có thể di chuyển trên bánh xe, dùng công nghệ tiên tiến nhất [ 3 ] và có giá hơn 100 000 Euro,] đến máy siêu âm cỡ bỏ túi, được sử dụng thuận tiện tại giường [ 6] và dễ dàng cầm bằng một tay. Các công nghệ gần đây  còn thêm khả năng kết nối đầu dò siêu âm hoạt động bằng pin với một số điện thoại thông minh  có hiệu quả. Công nghệ này bỏ qua nhu cầu của máy siêu âm chuyên dụng và có thể giữ giá đầu vào thấp, làm cho giá mua giữa máy siêu âm mắc nhất và rẻ nhất chênh lệch nhau hơn 100 lần. 

CT hoặc MRI thì không thể có khác biệt này của máy siêu âm [về kích thước, khả năng và giá cả]. 

Hơn nữa, siêu âm không chỉ có khả năng hiển thị thông tin hình thái mà còn hiển thị về chức năng: ví dụ như sự hiện diện và vận tốc của dòng máu trong các mạch máu với Doppler, độ cứng của mô với kỹ thuật đàn hồi [ 7 ], tưới máu mô với định lượng siêu âm cản âm [8 ] và gần đây là phép đo siêu âm mô phân tán / độ nhớt hoặc định lượng hàm lượng mỡ gan [ 3 ] [ 9 ] [ 10 ] [ 11] hầu như tất cả đều sẵn có trong cùng một thiết bị. 

Bên cạnh đó, đại dịch COVID-19 đã thực tế sử dụng siêu âm cho nhiều vùng cơ thể và môi trường sống. Siêu âm có thể khảo sát chính xác các cấu trúc ngoài da bằng đầu dò tần số siêu cao cũng như các vùng sâu cơ thể như tim hoặc mạch máu sau phúc mạc. 

Ngoài ra, siêu âm  phổi đã được khẳng định là có hiệu quả, nhưng thường chỉ giới hạn ở các đơn vị chăm sóc đặc biệt, chưa được sử dụng rộng rãi. Sự cần thiết phải đánh giá những bệnh nhân bị nhiễm SARS-Cov-2, thường bị tổn thương chủ yếu ở phổi  vẫn còn hạn chế cho những người có nhu cầu đến bệnh viện để tránh tình trạng quá tải các cơ sở y tế . Trên thực tế, siêu âm phổi đã nhanh chóng trở thành một phần của việc đánh giá những bệnh nhân như vậy, và đạt được thành công lớn [12 ] [ 13 ] [ 14 ]. Cách khám siêu âm phổi tương đối dễ học, làm cho các bác sĩ tin tưởng hơn trong quyết định giữ bệnh nhân ở nhà hoặc chuyển họ đến bệnh viện và đã được tích hợp liền mạch trong đánh giá siêu âm lâm sàng của những bệnh nhân đó. Trong số tạp chí này, tiềm năng của siêu âm phổi đã được đề cập [ 15]. 

Tuy nhiên,  việc tích hợp siêu âm vào đánh giá lâm sàng của bệnh nhân là điều đáng chú ý, khi siêu âm được sử dụng bởi các bác sĩ không chỉ là người khám siêu âm mà còn  chủ yếu chịu trách nhiệm về các quyết định lâm sàng. Đây là khái niệm mới nổi lên về siêu âm tại điểm chăm sóc [PocUS] hoặc  siêu âm hỗ trợ thăm khám cho bệnh nhân. Trong đó dùng siêu âm  như phần mở rộng kiểm tra sức khỏe, giúp bác sĩ đưa ra quyết định nhất quán hơn khi lập kế hoạch  chẩn đoán và điều trị tốt nhất . Điều này đã được định nghĩa là Kiểm tra Y tế Hỗ trợ Siêu âm (SAME) [ 16 ] [ 17 ]. Một ví dụ về khái niệm này cũng được minh họa trong một bài báo của số báo hiện tại [4 ]. Do đó, cũng từ quan điểm này, siêu âm đang cho thấy phạm vi ứng dụng rộng rãi nhất  từ khoa X-quang với siêu âm đa thông số  [multiparametric], đến các khoa lâm sàng,  khoa cấp cứu , các đơn vị chăm sóc đặc biệt cho đến  dịch vụ tại chỗ, trên xe cứu thương và đến tận nhà bệnh nhân.

Nhìn chung, sau đại dịch COVID-19, siêu âm dường như đã trở nên mở rộng thường xuyên hơn trong hoạt động y tế tốt nhất phục vụ cộng đồng .



 

Thứ Bảy, 6 tháng 11, 2021

Siêu âm BN nằm sấp cho Viêm Ruột thừa Sau Manh tràng

 



Abstract





While many cases of appendicitis are easy to diagnose clinically, a significant number need further workup in the form of imaging. Ultrasound and CT are both used extensively to diagnose or exclude appendicitis, or arrive at an alternate diagnosis. 

Ultrasound has many advantages but can be a difficult modality to use due to, among other reasons, the anatomical variations in appendicial location. The true retrocolic appendix is particularly difficult to diagnose with ultrasound. This pictorial essay examines the ultrasound features of normal and diseased appendix and proposes a new examining station, the prone view, for visualizing true retrocolic appendicitis.