Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2008

COMET TAIL ARTIFACT trong CHẨN ĐÓAN TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI

Bs NGUYỄN THIỆN HÙNG biên dịch
từ Journal of Ultrasound in Medicine, Vol 21, Number 9, September 2002.

Gửi Ban biên tập: Tôi tham khảo bài The Focused Abdominal Sonography for Trauma Scan:Pearl and Pitfalls của Mc Gahan và cộng sự và xin cảm ơn các tác giả đã lược qua các thông tin. Các tác giả bàn luận về comet tail artifact (xảo ảnh đuôi sao chổi) là triệu chứng siêu âm chẩn đoán tràn khí màng phổi rất rõ ràng và tỉ mỉ.
Các tác giả nhấn mạnh rằng có thể chẩn đoán tràn khí màng phổi dựa vào căn bản của siêu âm bằng cách ghi chú comet tail có nguồn gốc từ tràn khí màng phổi. Tuy nhiên một số tác giả khác báo cáo ngược lại, chính ra không có dấu hiệu comet tail artifact mới giúp chẩn đoán tràn khí màng phổi.

Có thể làm sáng tỏ khác biệt này bằng cách định nghĩa thuật ngữ comet tail artifact. Kỹ thuật siêu âm phát hiện tràn khí màng phổi là các mặt cắt qua thành ngực trước khoảng gian sườn thứ ba thứ tư khi bệnh nhân nằm ngữa. Đường màng phổi là đường echo dày ở giữa và bên dưới 2 xương sườn. Comet tail artifact là những xảo ảnh echo dày phản âm nhiều lần (hyperechoic reverberation) xuất phát từ đường màng phổi và trải dài xuống đến bờ dưới màn hình và là xảo ảnh thường gặp bình thường. Lichtenstein và cộng sự đã tả nhiều loại xảo ảnh khác từ đường màng phổi bao gồm các thuật ngữ mô tả horizontal artifact, sparse comet-tail artifacts và disseminated comet-tail artifacts. Khí thũng phổi ở lá thành (parietal emphysema) có thể tạo ra comet tail artifacts ở phía trên đường màng phổi. Bệnh phổi kẽ cũng có thể có comet tail artifacts có đặc điểm xuất phát từ bề mặt phổi.
Comet tail artifacts, mà người làm siêu âm thường chú ý đến, xuất phát từ đường màng phổi và trải xuống bờ dưới màn hình. Với định nghĩa như vậy, sự hiện diện dấu hiệu này cho phép loại trừ (mà không chẩn đoán) tràn khí màng phổi với độ chính xác cao.
STEWART S. CHAN , MBBS, FRCS, FHKAM
Department of Accident and Emergency, Prince of Wales Hospital
The Chinese University of Hongkong


TRẢ LỜI
Chúng tôi đồng ý với Mr Chan là sự khác biệt có thể làm sáng tỏ bằng định nghĩa phù hợp với thuật ngữ comet tail artifact. Đó chính là cái xảo ảnh bình thường mà khi siêu âm ngực được tạo nên bởi mặt phẳng phân cách màng phổi - thành ngực. Trước đây xảo ảnh đó được gọi là comet tail artifact. Tuy nhiên đúng ra phải gọi là phản âm nhiều lần (reverberation artifact), khác với tên comet tail artifact là một xảo ảnh khác do tràn khí màng phổi hay do bệnh lý phổi mà có. Xảo ảnh phản âm nhiều lần gặp trong phổi bình thường và dễ nhận ra, vì mỗi lần phản âm xảy ra có khoảng cách bằng với khoảng cách lần phản âm trước đó như minh hoạ của H 1.

Có 2 mấu chốt để nhận ra xảo ảnh phản âm nhiều lần xảy ra trong phổi bình thường. Thứ nhất mỗi xảo ảnh được phân cách bằng một khoảng cách, bằng với khoảng cách da-màng phổi. Thứ hai, xảo ảnh phản âm nhiều lần kém echo hay cường độ so với comet tail artifacts. Nhớ lại rằng phổi cấu tạo không phải với không khí mà còn là mô, có trở âm khác trở âm của hơi tự do.
Xảo ảnh comet tail artifacts có thể xảy ra trong ít nhất 2 điều kiện trong phổi. Thứ nhất là cái được mô tả như là comet tail artifacts bệnh lý ở bệnh nhân có bệnh phổi nội sinh. Có thể đó là thứ phát của tụ khí ít trong phổi trong khoảng dưới phổi tạo nên comet tail artifacts. Thứ hai với tràn khí màng phổi comet tail artifacts có thể bị phát hiện. Xảo ảnh này có thể có nhiều dạng, có thể là thứ phát với lượng khí trong màng phổi mặc dù có nhiều cách giải thích khác. Xảo ảnh này có thể sáng, tiếp giáp, có echo, hầu như có sọc rõ, hay thường gặp hơn là những đường sáng, có echo, nằm ngang (H 2).
Nguyên do chính xác các đường ngang còn bàn cãi và phức tạp. Mr Chan nói 'comet tail artifacts are hyperechoic reverberation artifacts'. Điều này không đúng vì cơ chế tạo nên chúng khác nhau. Có người dùng thuật ngữ comet tail artifacts cùng với thuật ngữ ring-down artifact. Nhưng người khác lại không dùng vì nghĩ rằng comet tail artifacts tạo bởi vật kim loại, còn ring-down artifact thì dùng với hơi hay không khí thì thích hợp hơn. Chìa khóa nhận ra xảo ảnh là thường nhiều đường với bề dày được xác định và có chu kỳ như minh hoạ trong H 2. Mấu chốt là khoảng cách giữa đường thường nhỏ hơn khoảng cách giữa mặt phẳng phân cách da và phổi. Thường xảo ảnh từ hơi sáng hơn reverberation từ phổi bình thường.

Do vậy tốt nhất nên gọi xảo ảnh từ phổi bình thường là phản âm nhiều lần (reverberation artifact) và xảo ảnh từ tràn khí màng phổi hay phổi bệnh lý là comet tail artifact, ring-down artifact hay free air artifact. Có lẽ điều quan trọng nhất để xác định tràn khí màng phổi là mất dấu sliding (trượt). Đó là đường có echo dày của lá tạng màng phổi dính vào phổi và chuyển động và trượt khi thở. Điều này giúp xác định phổi bình thường. Mất dấu sliding đơn độc là dấu hiệu đáng tin cậy của tràn khí màng phổi trong hơn 90% trường hợp.

JOHN P. McGAHAN,MD - JOHN RICHARDS, MD - MARIJO GILLEN, MD PhD.
University of California Davis Center
Sacramento, California
Đã đăng trong Siêu âm ngày nay Số 35(2004)
Đăng nhận xét