Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

HIGH-FREQUENCY ULTRASOUND with ELASTOGRAPHY in BENIGN and MALIGNANT SKIN LESIONS

HIGH-FREQUENCY ULTRASOUND with ELASTOGRAPHY in BENIGN and MALIGNANT SKIN LESIONS

Siêu âm da tần số cao với đo độ đàn hồi giúp phân biệt bệnh da lành tính và ác tính


High-frequency ultrasound với elastography giúp phân biệt các trường hợp bệnh lý da lành và ác tính theo một báo cáo tại RSNA (Radiological Society of North America) 12/02/2009.


Siêu âm tần số cao với elastography có khả năng tăng cường hiệu quả chẩn đoán ung thư da, theo Eliot L. Siegel, M.D., phó chủ nhiệm khoa Radiology của Maryland School of Medicine (UMSM) ở Baltimore. Siêu âm tần số cao với elastography xác định độ lan rộng tổn thương và định lượng được sự phân biệt giữa các tổn thương lành tính và ác tính. Có hơn 1 triệu ca ung thư da mỗi năm tại Mỹ theo Hiệp hội Ung thư Mỹ (American Cancer Society). Melanoma, loại ung thư quan trọng nhất, có 68.720 ca và có 11.590 ca chết trong năm 2009, dù đã biết được chẩn đoán sớm có thể chữa lành với tỉ lệ cao.


Các chuyên gia bệnh ngoài da chẩn đoán các tổn thương da nghi ngờ và sinh thiết dựa trên biểu hiện bề mặt và đặc điểm tổn thương. Nhưng ngay cả những chuyên gia có kinh nghiệm cũng khó phân biệt lành hay ác tính khi khám lâm sàng vì biểu hiện giống nhau của chúng đặc biệt ở giai đoạn sớm. Không phải thường gặp những bệnh nhân có một hoặc nhiều tổn thương có biểu hiện như vậy.


Đồng tác giả Bahar Dasgeb, M.D., ở bộ môn Dermatology của Wayne State University ở Detroit và Pinkus Dermatopathology Lab ở Monroe, Michigan nói ”Chuyên gia bệnh ngoài da có xu hướng sinh thiết các tổn thương bệnh nghi ngờ. Hậu quả là nhiều tổn thương lành tính không cần cũng phải sinh thiết để tránh nguy cơ bỏ sót chẩn đoán melanoma”.


Đo độ đàn hồi giúp phân biệt các tổn thương lành và ác tính không qua biểu hiện thấy được mà bằng cách đo độ đàn hồi hay độ cứng. Vì u ác tính cứng hơn nên elastography khi được kết hợp với siêu âm tần số cao có khả năng tăng độ chính xác của chẩn đoán lâm sàng truyền thống và trong một số ca, loại bỏ việc sinh thiết không cần thiết của tổn thương lành tính. Thủ thuật không xâm lấn, thuận tiện và không mắc tiền.








Trong nghiên cứu có 40 ca với các tổn thương da ác tính và không ác, hay lành tính. U ác gồm squamous cell carcinoma, basal cell carcinoma và melanoma. U lành gồm dermatofibroma, mô sẹo không ung thư, và u mỡ.


Chỉ số đàn hồi (ratio of elasticity) giữa da lành và da cạnh tổn thương được tính để xác định chẩn đoán. Tổn thương dạng nang, không ác tính, có độ đàn hồi cao trong khi u ác kém đàn hồi. Chỉ số đàn hồi (ratio of elasticity) các loại da lành từ trong khoảng 0,04 đến 0,3 cho tổn thương dạng nang và đến trên 10,0 cho tổn thương ác tính.


Nói chung high-frequency ultrasound với elastography giúp chẩn đoán chính xác độ lan rộng và độ sâu dưới tổn thương để điều trị. Dr. Siegel nói “Phần thấy được tổn thương da chỉ là phần nổi tảng băng và hầu hết chuyên gia ngoài da mỗ mù bên dưới cái mà họ thấy trên bề mặt. High-frequency ultrasound có độ ly giải đến mức vi thể và giúp đo kích thước, dạng và sự lan rộng tổn thương trước khi sinh thiết”.

Đăng nhận xét