Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

2 CASES of EXTRAOVARIAN PRIMARY PERITONEAL CARCINOMA

EXTRAOVARIAN PRIMARY PERITONEAL CARCINOMA (EOPPC)  in a 59 year-old WOMAN, Lê Thống Nhất-Phan Thanh Hải-Nguyễn Thiện Hùng, MEDIC MEDICAL CENTER, HCMC, VIETNAM.

Một phụ nữ 59 tuổi đến khám vì chướng bụng.
Siêu âm phát hiện báng bụng lượng nhiều và có dày phúc mạc khu trú trước thận P kiểu gieo mầm. Vùng chậu không có u buồng trứng khi siêu âm qua ngã bụng lẫn qua ngã âm đạo (TVS).


H.1: U dạng gieo mầm phúc mạc trước thận P và báng bụng ác tính.

H.2: Hình TVS cho thấy 2 buồng trứng không u.

CA-125 =706,8 U/mL tăng cao, ADA=21 U/L (< 28: không phải do lao). Dịch báng không có tế bào ác tính.


MSCT  phát hiện carcinomatosis với dày mạc nối lớn và chồi sùi trong phúc mạc.





Sinh thiết mạc nối lớn : Carcinôm tuyến biệt hoá vừa ở mạc nối lớn.


Kết luận: Carcinôm nguyên phát phúc mạc ngoài buồng trứng (extraovarian primary peritoneal carcinoma).

_________________________

A RETROSPECTIVE EOPPC CASE in a 71yo WOMAN
PHU DUNG THAI BIEU-NGUYEN THIEN HUNG- PHAN THANH HAI, MEDIC MEDICAL CENTER, HCMC, VIETNAM

A 70yo HCV female patient for 4 years (from 2006) came to ultrasound department of MEDIC (2010) with unknown cause of ascitis.
Ultrasound detected a chronic hepatitis, malignant ascitis with a peritoneal cake, and no pelvic tumor.

CA-125 = > 600,0 U/mL



MSCT= Peritoneal carcinomatosis, no ovarian tumor.


Laparoscopic biopsy results = Peritoneal serous carcinoma of ovary: Peritoneal tissue included many cells containing dysmorphologic nuclei, which formed into groups of papillary gland shape. In that there were psammona body.




Carcinoma phúc mạc nguyên phát ngoài buồng trứng (EOPPC) là u biểu mô ác tính hiếm, phát triển từ phúc mạc lót chậu và bụng; và được chẩn đoán là carcinomatosis ổ bụng, không liên quan gì đến buồng trứng và không phát hiện được u nguyên phát. 
EOPPC tương tự như carcinoma buồng trứng loại serous về biểu hiện lâm sàng, về mô học, kiểu lan truyền, điều trị và tiên lượng.
Có nhiều tên, bao gồm serous surface papillary carcinoma của peritoneum, extraovarian müllerian adenocarcinoma, multiple focal extraovarian serous carcinoma và hội chứng carcinoma có kích thước buồng trứng bình thường.
Dạng bệnh lý này được Swerdlow miêu tả đầu tiên (1959) là «mesothelioma của peritoneum vùng chậu ». Mặc dù hầu hết các trường hợp của EOPPC là  serous, nhiều u nonserous đã được báo cáo. EOPPC  chiếm khoảng 7% tới 15% các trường hợp ung thư buồng trứng được chẩn đoán.



Về nguồn gốc, EOPPC xuất phát từ chính bề mặt phúc mạc. Trong giai đoạn phôi thai, biểu mô buồng trứng và phúc mạc cùng biệt hoá từ lá phôi giữa (mesothelium). Do đó bệnh lý u phúc mạc nguyên phát này có biểu hiện như u buồng trứng, dù ở trường hợp đã cắt u buồng trứng lành tính, hay cắt do ngừa vì tiền sử gia đình, hoặc ở trẻ em, và có khi ở nam giới bị peritoneal carcinomatosis với giá trị CA-125 cao.

EOPPC có nhiều tên:

• extraovarian peritoneal carcinoma

• extraovarian serous carcinoma

• peritoneal carcinomatosis

• peritoneal papillary serous carcinoma

• Müllerian peritoneal adenocarcinoma

• paraovarian cystadenocarcinoma

• papillary serous carcinoma of the peritoneum


Tài liệu tham khảo chính:
1. A rare case of extraovarian primary peritoneal carcinoma in a 72 year-old woman, F Moccia, M Cimmino, G Santabarbara, F De Vita, V Trapani, G Romano and L Fei, BMC Geriatrics 2010, 10 (Suppl 1):A16
2. Mesothelioma of the pelvic peritoneum resembling papillary cystadenocarcinoma of the ovary: case report.  Swerdlow M, Am J Obstet Gynecol 1959, 77:197-200
3. Extraovarian primary peritoneal carcinoma. A case report, Jesús Vera Álvarez, Miguel Marigil Gómez, María Dolores García Prats, Manuel Abascal Agorreta, José Manuel Ramón Cajal, José Ignacio López López, Juan Pablo Royo Goyanes, Patologia, Vol. 40, n.º 1, 2007.
Đăng nhận xét