Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2011

New Method to Diagnose Sinusitis: Doppler Ultrasound

New Method to Diagnose Sinusitis Could Reduce Use of Antibiotics
October 6, 2011

Có một phương pháp chẩn đoán viêm xoang mới trong một luận văn vừa thông qua tại Lund University. Các kết quả cung cấp khả năng làm giảm dùng kháng sinh và phí tổn điều trị cho xã hội.

Viêm mũi xoang là tiến trình viêm nhiễm niêm mạc mũi và một hay nhiều xoang cạnh mũi. Mục tiêu công trình nhằm khảo sát mức độ viêm mũi xoang ảnh hưởng đến chất lượng sống có liên quan đến sức khoẻ (health-related quality of life, HRQOL), và nhằm xác định làm thế nào hoàn hiện chẩn đoán bệnh này bằng cách sử dụng siêu âm Doppler.






H.3: Siêu âm được dùng phát hiện dịch trong xoang hàm và xoang trán. Khi xoang hàm có dịch sẽ có xung siêu âm với đỉnh =4-5cm trên trục x của màn hiển thị dụng cụ siêu âm.


H.6: Dụng cụ siêu âm Doppler thiết kế để phân biệt serous với mucopurulent sinus secretion. Luồng chảy âm được phát hiện (và kết quả là đo được độ lệch Doppler) trong dịch xoang là dấu hiệu của dịch tiết không mủ (non-purulent secretions).

H.7: Thiết bị dùng xác định tốc độ và sự giảm âm trong một mẫu dịch. Hình trình bày hộp dùng để đo với đầu dò siêu âm.


HRQOL của 207 bệnh nhân được phân làm 3 nhóm, một nhóm là viêm mũi xoang cấp tái phát, và hai nhóm viêm mũi xoang mạn có polyp mũi hoặc không, được đánh giá bằng 22 Sinonasal Outcome Test (SNOT-22), 36-item short-form questionnaire (SF-36), Hospital Anxiety and Depression (HAD) scale và total visual analogue scale (VAS). HRQOL của những bệnh nhân này giảm có ý nghĩa so với giá trị bình thường. Giữa 3 nhóm, HRQOL scoring có những khác biệt nhau có ý nghĩa. Nghiên cứu cohort (thuần tập) này ghi nhận có 8-14 ngày bỏ việc mỗi năm vì vấn đề xoang. SNOT-22 và total VAS biểu hiện là các biện pháp có tác động thích hợp trong các trường hợp viêm mũi xoang trong cộng đồng Thuỵ điển.

Không thể phân biệt serous sinus fluid (có độ nhớt thấp) với mucopurulent sinus secretions (có độ nhớt cao) bằng CT hay siêu âm. Tuy nhiên, việc xác định không xâm lấn thành phần chất tiết của xoang thường có vi khuẩn trong dịch mủ nhày của viêm mũi xoang là có giá trị.

Để tăng cường chẩn đoán cho những bệnh nhân này, phải phát triển thêm kỹ thuật siêu âm. Trong luận văn, có thể gây ra luồng chảy âm (acoustic streaming) trong mô hình xoang (sinus model), và qua đó đặc tính âm của dịch được xác định bằng siêu âm Doppler. Tần số siêu âm thích hợp là 5MHz, điều này rất quan trọng. Nếu tần số quá cao, xương sẽ hấp thu siêu âm hoàn toàn và không thể xuyên thấu vào xoang. Nếu tần số quá thấp, chuyển đổi năng lượng vào dịch xoang không đáng kể nên sẽ không phát hiện được luồng chảy. Kích thước xoang hàm và xoang trán được khảo sát bằng hình CT để thiết kế dụng cụ Doppler có hiệu quả lâm sàng. Siêu âm Doppler có thể phân biệt serous sinus fluid với mucopurulent sinus secretion, mà bệnh nhân không bị ảnh hưởng do tăng nhiệt độ.






Đăng nhận xét