Tóm tắt
Mục đích
Mục đích của bài đánh giá này là thảo luận một cách phê phán về việc sử dụng siêu âm trong đánh giá các rối loạn cơ, đặc biệt tập trung vào việc ứng dụng ngày càng phổ biến trong các bệnh viêm cơ.
Những phát hiện gần đây
Trong các bệnh lý cơ, cơ bệnh lý cho thấy có gia tăng độ hồi âm. Độ hồi âm của cơ có thể được đánh giá bằng mắt thường, bán định lượng hoặc định lượng bằng phân tích thang độ xám. Sự tham gia của các nhóm cơ cụ thể và mô hình tăng độ hồi âm có thể giúp chỉ ra các bệnh cụ thể hơn. Trong các rối loạn thần kinh cơ ở trẻ em, giá trị của siêu âm cơ trong sàng lọc và chẩn đoán đã được chứng minh rõ ràng là một biện pháp nhạy bén để theo dõi sự thay đổi bệnh trong chứng loạn dưỡng cơ. Trong các dạng viêm cơ mãn tính như viêm cơ thể vùi, siêu âm rất thích hợp để phát hiện sự gia tăng rõ rệt độ hôi âm và teo cơ ở các cơ bị ảnh hưởng. Các trường hợp phù cơ cấp tính chỉ cho thấy sự gia tăng nhẹ độ hôi âm, và tình trạng này cũng có thể đảo ngược khi điều trị thành công.
Tóm tắt
Siêu âm cơ là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh quan trọng, có khả năng ứng dụng cao trong nghiên cứu nhiều bệnh lý cơ khác nhau. Mặc dù giá trị chẩn đoán đối với các rối loạn thần kinh cơ rất cao, nhưng bằng chứng về việc sử dụng nó trong bệnh viêm cơ mới chỉ bắt đầu được thu thập một cách nghiêm túc. Cần có thêm các nghiên cứu hệ thống, đặc biệt là về vai trò của nó trong việc phát hiện phù nề.
Bảng 1. Các phát hiện siêu âm chính trong các rối loạn thần kinh cơ.
Kết quả chẩn đoán rối loạn thần kinh cơ
1. Bệnh cơ
Đặc điểm chung: Độ hồi âm thường bất thường hơn so với bề dày cơ.
Loạn dưỡng cơ: Tăng âm đa ổ đến đồng nhất với "hình ảnh kính mờ", suy giảm bề dày cơ dẫn đến độ hồi âm bình thường hoặc giảm ở các lớp sâu hơn trong các cơ bị ảnh hưởng nặng. Lưu ý: Thoái hóa mỡ hoàn toàn có thể cho kết quả độ hồi âm "bình thường" giả, nhưng cấu trúc cơ sẽ bị mất.
Bệnh cơ bẩm sinh: Tăng âm đa ổ đến đồng nhất, giảm bề dày cơ, suy giảm bề dày cơ dẫn đến độ hồi âm bình thường hoặc giảm ở các lớp sâu hơn trong các cơ bị ảnh hưởng nặng.
Bệnh cơ chuyển hóa: Thay đổi tối thiểu trên siêu âm, có thể tăng độ hồi âm nhẹ đến vừa phải khi các thay đổi cấu trúc trở nên rõ ràng.
Bệnh Viêm cơ : Trong giai đoạn cấp tính, có sự gia tăng nhẹ độ hồi âm. Trong giai đoạn mãn tính, hiện tượng này trở nên rõ rệt hơn và kèm theo giảm bề dày cơ. Có thể thấy sự gia tăng hồi âm khu trú. Cơ có thể trở lại hình dạng bình thường nếu điều trị thành công và thuyên giảm.
Viêm da cơ: Sự gia tăng hồi âm có thể khu trú với "hình ảnh trong suốt", kèm theo sự gia tăng hồi âm của mô dưới da.
Viêm cơ thể vùi: Hồi âm của các cơ bị ảnh hưởng tăng rõ rệt và bề dày cơ giảm. Cơ có thể có "hình dạng như bị mối ăn" và ảnh hưởng có thể không đối xứng.
2. Bệnh lý thần kinh
Bệnh lý đa dây thần kinh: Trong các bệnh lý thần kinh nhẹ có tái tạo thần kinh, hình ảnh siêu âm vẫn bình thường. Trong các trường hợp nặng hơn với tái tạo thần kinh không hoàn toàn, sẽ thấy gia tăng không đồng nhất về độ hồi âm và giảm bề dày cơ, theo kiểu "hình ảnh bị mối ăn". Các cơ ở xa bị ảnh hưởng nặng hơn các cơ ở gần.
Bệnh lý thần kinh khu trú: Những bất thường đầu tiên trên siêu âm có thể nhìn thấy sau 10 ngày, với độ hồi âm bất thường hơn bề dày cơ. Khi có tái tạo thần kinh, hình ảnh siêu âm vẫn bình thường. Các vùng không có tái tạo thần kinh sẽ trông giống như "hình ảnh bị mối ăn". Sự mất phân bố thần kinh kéo dài ở cơ sẽ dẫn đến tăng rõ rệt độ hồi âm, giảm bề dày cơ kèm theo các đường viền màng cơ màu đen.
3. Bệnh thoái hóa thần kinh vận động, Teo cơ
(Teo cơ tủy sống, Teo cơ một bên xơ cứng)
Tăng âm không đồng nhất với hình ảnh "cơ bị mối ăn" hoặc cơ hoàn toàn trắng với teo cơ nghiêm trọng. Có thể là bình thường ở trẻ sơ sinh mắc SMA type I. Tăng độ hôi âm với bề dày cơ giảm, nhưng hiện tượng co giật cơ là đặc điểm nổi bật nhất.
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét