Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010

HÌNH ẢNH SIÊU ÂM của GOUT/ULTRASOUND FINDINGS in GOUT: DOUBLE CONTOUR SIGN, TOPHACEOUS MATERIALS and OTHER

Các dấu hiệu siêu âm trong gout gồm:


- Dấu viền đôi (double contour sign) là 2 đường: một là dải echo dày có bề mặt không đều do tinh thể urat (monosodium urate, MSU) lắng đọng trên bề mặt sụn khớp, và đường thứ hai là đường viền vỏ xương có echo dày.



- Vùng mờ echo dày (hyperechoic cloudy area) do tinh thể urat lắng đọng trong màng hoạt dịch viêm dày.

 - Cục tophus thường có dạng ovale như nhúm đường ướt (wet sugar clumps) ở cạnh xương và khoảng khớp, có echo kém hay echo dày, không đồng dạng, và có viền không có echo xung quanh (hay đường nối, anechoic seam).
Vùng mờ echo dày và cục tophus là 2 dạng lắng đọng tinh thể urat (tophaceous material) thường thấy ở khớp bàn đốt ngón chân (metatarsophalangeal, MTP) và khớp bàn đốt ngón tay (metacarpophalangeal, MCP).


- Khuyết xương (erosion) ở cạnh nơi  lắng đọng tinh thể urat, là các chỗ vỡ của đường viền echo dày của vỏ xương.


- Phì đại màng hoạt dịch là nơi dày đồng tâm của màng hoạt dịch. Có tăng tưới máu mô màng hoạt dịch trên power Doppler ở các trường hợp không có triệu chứng lâm sàng gout cấp.


- Tụ dịch khớp có trong gout cấp tính, gout mạn tính và đợt cấp gout mạn tính.

Siêu âm có khả năng chẩn đoán gout không xâm lấn nhờ phát hiện tinh thể urat lắng đọng trên bề mặt sụn khớp (double contour sign, dấu viền đôi), các dạng lắng đọng tinh thể urat (tophaceous materials) và khuyết xương điển hình (typical erosion).
____________________________________________

Ghi chú:

1. Phương pháp chẩn đoán gout đáng tin cậy nhất  là chọc hút dịch khớp và soi kính hiển vi phân cực (polarizing microscopy) để định danh tinh thể.

(Hình từ Wikipedia)

2. Giả gout (pseudogout) là thể chính của bệnh lý lắng đọng calcium pyrophosphate dihydrate (CPPD) và viêm khớp mạn. Khác với gout, CPPD lắng đọng trong trung tâm của sụn hyaline và fibrous, tạo nên một lớp trong sụn hyaline song song với vỏ xương: sụn nhiễm vôi (chondrocalcinosis). Hình ảnh siêu âm sụn nhiễm vôi là một đường echo dày không đều trong sụn hyaline. 
KÍNH HIỂN VI PHÂN CỰC:


Kính hiển vi quang học có hai nicon phân cực ánh sáng, đặt thẳng góc nhau: nicon phân cực đặt dưới mâm kính, nicon phân tích đặt giữa vật kính và thị kính. Mẫu đá hoặc khoáng vật mài mỏng tới bề dày 0,03 mm, được gắn bằng nhựa Canađa vào tấm thuỷ tinh và đặt trên mâm kính.
KHVPC cho phép xác định các hằng số quang học của khoáng vật (chiết suất, lưỡng chiết suất, góc quang học, màu tự nhiên, màu đa sắc của khoáng vật kim loại) và nhờ đó có thể xác định chính xác tên khoáng vật.

Tài liệu tham khảo chính:
1.R.G. Thiele and N.Schlesinger: Diagnosis of Gout by Ultrasound, Rheumatology 2007;46:1116-21.
2.Naomi Schlesinger: Diagnosis of Gout: Clinical, Laboratory and Radiologic Findings, The American Journal of Managed Care, Vol 11 No sup S443-450, November 2005.
3. Stephen A Wright, Emilio Filippucci, Claire McVeigh, et al: High-Resolution Ultrasonography of the First Metatarsal Phalangeal Joint in Gout: a Controlled Study, Ann Eheum Dis 2007;66:859-864.







Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2010

Appendiceal Mucocele : Ultrasound Findings

SIÊU ÂM U NHÀY RUỘT THỪA

U nhày ruột thừa được định nghĩa như là giãn lòng ruột thừa thành nang do tích tụ chất nhày (mucin). Là bệnh hiếm gặp, chiếm 0,2-0,3% các trường hợp cắt ruột thừa. Do sỏi phân, do carcinoid ... và quan trọng hơn do mucinous cystadenoma hoặc cystadenocarcinoma. Nếu u nhày vỡ sẽ gây ra tình trạng giả u nhày phúc mạc (pseudomyxoma peritonei). Nên cần chẩn đoán chính xác trước mổ để tiến hành phẫu thuật cẩn thận. U nhày ruột thừa được xem là một chẩn đoán phân biệt cho các trường hợp u vùng hố chậu P với ruột thừa chưa cắt bỏ. Tốt nhất là nên có chỉ định phối hợp với CT để có chẩn đoán chính xác trước mổ.


Về bệnh học u nhày ruột thừa có 4 loại. Loại thứ phát, hiếm gặp nhất, do tắc nghẽn bởi sẹo sau viêm, teo do tuổi tác, tắc bẩm sinh van Gerlach hoặc do chèn ép từ ngoài vách. Còn lại là do tăng sinh niêm mạc, hay mucinous cystadenoma hoặc mucinous cystadenocarcinoma tùy thuộc vào bệnh lý niêm mạc. Có 25% là do mucosal hyperplasia, thường giãn ít. Giãn nhiều hơn (trung bình = 40x24x20cm) là mucinous cystadenoma chiếm 60%, thường không có triệu chứng, được phát hiện tình cờ; với 20% có chất nhày ngoài ruột thừa, và nếu không có tế bào trong chất nhày tiên lượng thường tốt. Mucinous cystadenocarcinoma chiếm 10,15% được chẩn đoán bằng có tân sinh mô tuyến xâm lấn vách và có tế bào trong chất nhày phúc mạc. Loại này thường có triệu chứng. Vài tác giả cho rằng giả u nhày phúc mạc chỉ do mucinous cystadenocarcinoma. Mucinous cystadenocarcinoma cực hiếm, xuất phát từ cystadenomas, có đồng thời hoặc khác thời (metachronous) với colorectal adenoma và carcinomas. Có các báo cáo cho thấy có liên quan với các u đường tiêu hoá, u buồng trứng và u thận.

Hình ảnh siêu âm của u nhày ruột thừa:

Điển hình là nang có truyền âm và tăng cường âm vách sau. Nếu nang có vôi hoá thường có bóng lưng sau nhưng ít được chú ý. Bề dày vách thay đổi, nhưng nếu vách dày hơn 6mm được xem là biến chứng của viêm ruột thừa cấp. Lòng u nhày ruột thừa  không có echo (anechoic) hay có echo dày (hyperechoic) uốn sóng hay xếp từng lớp (dấu vảy hành, oignon skin sign). Lòng có vách hay có dạng polyp và đường viền không đều thường là ác tính dù dạng polyp thường có ở mucinous cystadenoma. Các chẩn đoán phân biệt của siêu âm là tụ dịch ruột non, dịch trong túi thừa đại tràng, áp xe ruột thừa hay áp xe túi thừa và nang thanh dịch mạc treo (mesenteric cyst seroma). Ở phụ nữ đang thời sinh sản chẩn đoán phân biệt còn là viêm vòi trứng hoặc thai ngoài tử cung.


Trên CT, điển hình là khối nhẳn hoặc có múi có đậm độ thấp (0-40HU). Các u nhày có dạng bất thường hay phức tạp thường là mucinous cystadenocarcinoma, với 1 nang hay nhiều nang và thành phần đặc. Có thể xâm nhiễm các cơ quan lân cận như đại tràng, bàng quang, và niệu quản. Vôi hoá dạng chấm hay đường uốn cong thường là mucinous cystadenoma, không thấy trên phim bụng không chuẩn bị. Vôi hoá không định hình thường là ác tính, do viêm mạn tính vì chất nhày kích thích. Nên tìm thêm xem có u kết hợp với u nhày ruột thừa không như u đại tràng (xuất độ 6 lần đối với colon adenocarcinoma) hay u buồng trứng tiết nhày (mucin-secreting).

U nhày ruột thừa nên được xem là chẩn đoán phân biệt cho các khối vùng hố chậu P. Để có chẩn đoán chính xác trước mổ, bắt buộc phải làm CT. Tất cả nhằm giúp phẫu thuật viên cẩn thận hơn để tránh làm vỡ u nhày ruột thừa làm rò chất nhày vào ổ bụng gây giả u nhày phúc mạc.

Xem ca 181 Vietnamese Medic Ultrasound .

Tài liệu tham khảo chính:

Aghahowa EJ, Bharati C, Al-Adwani M: Appendicular Mucocele, A Case Report, Kuwait Medical Journal, March, 2008, pp78-8
Francica G, Lapiccirella G, Giardiello C, Scarano F, Angelone C, De Marino F, Molese V: Giant Mucocele of the Appendix, J Ultrasound Med, 2006, 25:643-648.0.