Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

SIÊU ÂM SWE ĐỊNH LƯỢNG XƠ HÓA THẬN TRONG BỆNH LÝ THẬN MẠN TÍNH

Từ  Multiwave technology introducing shear wave elastography of the kidney: Pre-clinical study on a kidney fibrosis model and clinical feasibility study on 49 human renal transplants, Gennisson, Jean-Luc; Grenier, Nicolas; Hubrecht, Regis; Couzy, Lionel; Delmas, Yahsou; Derieppe, Marc; Lepreux, Sebastien; Merville, Pierre; Criton, Aline; Bercoff, Jeremy; Tanter, Mickael; Institut Langevin - Ondes et Images, ESPCI ParisTech, CNRS UMR 7587, INSERM U979, Paris, France, Ultrasonics Symposium (IUS): 1356 - 1359, 2010 IEEE


Số bệnh nhân viêm thận mạn (chronic kidney disease, CKD) và tiếp sau đó là bệnh lý thận giai đoạn cuối (end-stage renal disease, ESRD), gia tăng trên toàn thế giới. Thay đổi cách tiếp cận bệnh viêm thận mạn, với điều trị tốn kém bệnh thận giai đoạn cuối, đầu tiên là tấn công và kế tiếp là phòng ngừa là điều bắt buộc. Cải tiến này cần: hiểu rõ hơn cơ chế sẹo hóa thận (renal scarring) tiềm tàng, áp dụng điều trị chuyên biệt nhằm làm chậm diễn tiến bệnh và dùng các phương tiện hiện đại để chẩn đoán diễn tiến bệnh tiềm ẩn. Số bệnh nhân viêm thận mạn không được đánh giá đúng mức. Bệnh thận giai đoạn cuối gia tăng trong thập niên qua do các yếu tố tiên phát như cao huyết áp, tiểu đường, tăng lipid máu, béo phì hay nghiện thuốc lá.


                                                    Teo thận P (từ SuperSonic Imagine).

Trong công trình này, kỹ thuật tạo hình Supersonic Shear Imaging (SSI) được chứng minh là có khả năng theo dõi định lượng xơ hóa thận (kidney fibrosis) trên chuột. Sau đó, kỹ thuật tạo hình SSI được áp dụng trên người với đầu dò cong và đề xuất bản đồ đặc tính đàn hồi nhày (viscoelastic properties) của thận người ghép ở cơ thể sống và đối chiếu với sinh thiết.

Nghiên cứu theo dõi trong 8 tuần trên mô hình 50 chuột bị làm xơ hóa vi cầu thận (glomerulosclerosis) bằng L-Name nhằm khảo sát độ chính xác của kỹ thuật. Bản đồ đàn hồi định lượng của vỏ thận được thực hiện với đầu dò linear 8 MHz. Còn trên thận người ghép, bản đồ đàn hồi định lượng của vỏ thận được thực hiện với đầu dò cong 2,5MHz.



Kết quả trên động vật cho thấy có sự gia tăng độ đàn hồi vỏ thận từ 9-25kPa. Kết quả được đối chiếu với mô học như tiểu đạm và/hoặc định lượng xơ hóa với 3 màu.

Trên thận người ghép có 3 nhóm được khảo sát: nhóm chứng, nhóm đối tượng thận ghép không hoạt động sớm và nhóm thận ghép không hoạt động muộn. Kết quả thu thập được ở 49 bệnh nhân với bản đồ đàn hồi ở sâu 8cm và rộng 10cm cho thấy độ đàn hồi thay đổi giữa các nhóm, tăng từ 9 đến 50kPa. Đối chiếu với mô học đạt được sự thống nhất về các dấu hiệu xơ hóa và độ đàn hồi.


Thận ghép: không khác biệt độ đàn hồi kPa giữa vùng vỏ và vùng tủy (từ SuperSonic Imagine).

Chúng tôi đã chứng minh tính khả thi của siêu âm đàn hồi sóng biến dạng với kỹ thuật tạo hình SSI nhằm xác định xơ hóa vỏ thận  trên thận người và chuột trong cơ thể sống; tính lập lại và độ chính xác của đàn hồi sóng biến dạng cũng được bàn luận. Rõ ràng độ đàn hồi có liên quan với xơ hóa thận.


Thận ghép bình thường sau 5 năm với  độ đàn hồi vùng vỏ từ 5-24kPa (từ Medic Medical Center).

Vì hầu hết diễn tiến xơ hóa là do bệnh viêm thận mạn, việc xác định không xâm lấn và theo dõi diễn tiến này hẵn sẽ làm thay đổi dự hậu bệnh lý thận, nếu như bệnh nhân được áp dụng các điều trị trúng đích (targeted therapies).

Xem shear-wave-elastography-of-kidney-transplant-5-year-prior
Xem trong bệnh lý thận mạn tính, vỏ thận dày bao nhiêu renal-cortical-thickness-measured-at-ultrasound
Đăng nhận xét