Tổng số lượt xem trang

Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn dày vách túi mật. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn dày vách túi mật. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

GAN MỠ và XƠ HÓA GAN

Siêu âm giúp phát hiện bệnh lý gan như thế nào?

Siêu âm đóng vai trò là một công cụ hỗ trợ quan trọng, giúp định hướng, đánh giá mức độ tổn thương cấu trúc gan và loại trừ các nguyên nhân khác gây ra triệu chứng tương tự (như tắc mật, u gan).

Cụ thể, siêu âm phát hiện viêm gan thông qua các dấu hiệu sau:


1. Dấu hiệu viêm gan trên siêu âm

Tùy thuộc vào giai đoạn viêm gan là cấp tính hay mạn tính, cấu trúc nhu mô gan sẽ có những thay đổi khác nhau:

Viêm gan cấp tính

Trong giai đoạn cấp, gan bị sưng viêm và phù nề. Trên siêu âm có thể thấy:

  • Gan to ra: Kích thước gan vượt quá mức bình thường.
  • Gan giảm âm toàn bộ: Do tế bào gan bị phù nề chứa nước, nhu mô gan trông sẽ tối (đen) hơn bình thường.
  • Dấu hiệu "trời đầy sao" (Starry Sky sign): Khi nhu mô gan tối đi, đường bờ của các nhánh tĩnh mạch cửa (vốn có màu trắng) sẽ nổi bật lên một cách bất thường, trông giống như những ngôi sao ban đêm.
  • Thành túi mật dày lên: Phản ứng viêm lan tỏa có thể làm thành túi mật dày lên dù bản thân túi mật không bị viêm gốc.

Viêm gan mạn tính

Khi viêm gan kéo dài (trên 6 tháng), các tế bào gan bị tổn thương liên tục và bắt đầu hình thành các mô sẹo (xơ hóa). Siêu âm lúc này sẽ thấy:

  • Nhu mô gan thô, không đều: Gan không còn mịn màng mà bắt đầu có hạt, độ hồi âm tăng (gan sáng/trắng hơn).
  • Kích thước gan thay đổi: Giai đoạn đầu mạn tính gan có thể hơi to, nhưng nếu chuyển sang xơ gan, gan sẽ có xu hướng teo nhỏ lại.

2. Giới hạn của siêu âm thông thường

  • Dễ bỏ sót giai đoạn đầu: Ở giai đoạn viêm gan nhẹ hoặc mới khởi phát, cấu trúc hình thái của gan chưa thay đổi đủ nhiều để có thể nhìn thấy bằng mắt thường trên máy siêu âm 2D truyền thống.
  • Không tìm được nguyên nhân: Siêu âm chỉ thấy được hậu quả (gan phù nề, gan thô), chứ không thể phân biệt được viêm gan này là do virus (A, B, C...), do rượu, do nhiễm độc thuốc hay do tự miễn.

3. Các giải pháp siêu âm và xét nghiệm hiện đại

Để khắc phục giới hạn trên, y học hiện đại kết hợp siêu âm tiên tiến và xét nghiệm máu:

  • Siêu âm đàn hồi mô (Fibroscan / Shear Wave Elastography): Đây là kỹ thuật siêu âm cực kỳ giá trị cho bệnh nhân viêm gan mạn tính. Nó giúp "đo" chính xác độ cứng của gan, từ đó biết được viêm gan đã gây xơ hóa ở mức độ nào (từ F0 - không xơ hóa đến F4 - xơ gan) mà không cần sinh thiết.
  • Xét nghiệm máu (Bắt buộc): Để khẳng định chắc chắn có viêm gan hay không, bác sĩ luôn chỉ định:
    • Men gan (AST, ALT): Tăng cao khi tế bào gan đang bị hủy hoại.
    • Xét nghiệm huyết thanh: Tìm virus (HBsAg, Anti-HCV...) để xác định chính xác nguyên nhân.

Tóm lại: Siêu âm phát hiện được các biến đổi cấu trúc do viêm gan gây ra (đặc biệt rõ ở giai đoạn cấp tính rõ rệt hoặc mạn tính lâu năm). Tuy nhiên, để chẩn đoán chính xác bệnh và tìm nguyên nhân, bạn cần kết hợp siêu âm với xét nghiệm máu.

Siêu âm và bệnh lý gan

Siêu âm là phương thức chẩn đoán hình ảnh hàng đầu, nhanh chóng và không xâm lấn để đánh giá cấu trúc gan bệnh lý. Khi nhu mô gan thay đổi do bệnh lý, hình ảnh siêu âm (độ hồi âm - echogenicity, kích thước, bờ gan, và mạch máu) sẽ thay đổi cấu trúc một cách đặc trưng.

Dưới đây là cách siêu âm đánh giá và phân loại các cấu trúc gan bệnh lý chính:


1. Bệnh lý gan lan tỏa (Diffuse Liver Diseases)

Bệnh lý lan tỏa làm thay đổi toàn bộ hoặc phần lớn nhu mô gan, thay đổi độ sáng (độ hồi âm) so với thận và lách.

  • Gan nhiễm mỡ (Fatty Liver):
    • Hình ảnh: Nhu mô gan tăng âm (sáng hơn bình thường), gây mờ vùng cơ hoành và các mạch máu sâu bên trong (do chùm sóng âm bị giảm suy giảm mạnh).
    • Đánh giá: Thường được chia làm 3 mức độ (Nhẹ, Vừa, Nặng) dựa trên mức độ giảm âm vùng sâu và khả năng xóa mờ các mạch máu.
  • Viêm gan cấp và mạn tính (Hepatitis):
    • Cấp tính: Gan có thể to ra, giảm hồi âm toàn bộ (gan tối hơn), khiến các đường bờ tĩnh mạch cửa nổi bật lên (dấu hiệu "bầu trời đầy sao" - Starry sky).
    • Mạn tính: Nhu mô gan bắt đầu tăng âm thô, không đều do quá trình viêm và xơ hóa sợi kéo dài.
  • Xơ gan (Cirrhosis):
    • Hình ảnh: Cấu trúc nhu mô gan thô, không đều, bờ gan trở nên gồ ghề, dạng nốt (nodular surface). Kích thước gan giai đoạn đầu có thể to, nhưng giai đoạn muộn sẽ teo nhỏ (đặc biệt là thùy phải) và phì đại thùy đuôi.
    • Dấu hiệu tăng áp lực tĩnh mạch cửa kèm theo: Giãn tĩnh mạch cửa (>13mm), lách to, dịch cổ trướng (báng bụng), và tái thông tĩnh mạch rốn.

2. Tổn thương khu trú tại gan (Focal Liver Lesions)

Siêu âm giúp phát hiện, định vị và gợi ý bản chất của các khối u hoặc nang trong gan.

Tổn thương lành tính

  • Nang gan (Liver Cyst): Cấu trúc trống âm hoàn toàn (đen), thành mỏng, có bóng tăng âm phía sau rõ rệt.
  • U máu gan (Hemangioma): Khối lành tính thường gặp nhất. Thường là một khối tăng âm (trắng), đồng nhất, giới hạn rõ, không có tín hiệu mạch máu mạnh bên trong trên siêu âm Doppler.
  • Tăng sản nốt khu trú (FNH): Khối có độ hồi âm thay đổi (đồng âm hoặc kém), đặc trưng bởi sẹo trung tâm hình sao và có mạch máu nuôi dạng nan hoa trên Doppler.

Tổn thương ác tính

  • Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC): Cấu trúc rất đa dạng (giảm âm, tăng âm hoặc hỗn hợp). Thường có viền giảm âm xung quanh (vỏ bao u). Trên Doppler màu thường thấy hiện tượng tăng sinh mạch máu hỗn loạn bên trong và xung quanh khối u.
  • Ung thư gan thứ phát (Di căn gan - Metastasis): Thường xuất hiện đa ổ, kích thước khác nhau. Hình ảnh điển hình là dấu hiệu "mắt bò" (Bull's eye) hoặc "hình bia bắn" (thần trung tâm tăng hoặc kém âm, xung quanh có viền giảm âm dày).

3. Các chỉ số và kỹ thuật siêu âm tiên tiến hỗ trợ

Để tăng độ chính xác thay vì chỉ nhìn bằng mắt thường (định tính), siêu âm hiện đại áp dụng các kỹ thuật định lượng:

  • Siêu âm Doppler (Doppler Ultrasound): Đánh giá huyết động học, phát hiện huyết khối tĩnh mạch cửa (thường gặp trong HCC hoặc xơ gan) và đo vận tốc dòng chảy.
  • Siêu âm đàn hồi mô (Elasticity Imaging/Shear Wave Elastography): Đây là "bước tiến lớn" trong đánh giá cấu trúc gan. Kỹ thuật này đo độ cứng của nhu mô gan (bằng đơn vị kPa hoặc m/s) để phân độ xơ gan (từ F0 đến F4) một cách chính xác mà không cần sinh thiết.
  • Siêu âm có chất cản âm (CEUS): Sử dụng các vi bong bóng để đánh giá động học tưới máu của khối u (thì động mạch, thì tĩnh mạch), giúp phân biệt chính xác u lành và u ác tương tự như chụp CT hay MRI.

Tóm lại: Siêu âm là công cụ tầm soát và đánh giá cấu trúc gan bệnh lý có hiệu quả. Khi siêu âm phát hiện cấu trúc gan thô, nốt khu trú hoặc nghi ngờ ác tính, bác sĩ thường sẽ chỉ định kết hợp thêm xét nghiệm máu (AFP, men gan) và chụp CT-Scanner hoặc MRI có tiêm thuốc cản quang để đưa ra chẩn đoán xác định.

Siêu âm trong gan thấm mỡ
Tích mỡ trong gan có thể do lạm dụng rượu, một số thuốc men, viêm gan siêu vi, bệnh gan tự miễn, bệnh gan biến dưỡng hoặc di truyền. Loại được tất cả các nguyên nhân này có thể phát hiện gan thấm mỡ không do rượu [NAFL]. Gan thấm mỡ không do rượu có nguy cơ chai gan, với cảnh báo trở thành dịch trong thập niên tới. 
(MRI, là một công cụ đánh giá gan thấm mỡ tuyệt vời, nhưng  không có khả năng sàng lọc nhanh, chi phí thấp như siêu âm).

Siêu âm B-mode có khả năng phát hiện sớm gan thấm mỡ bằng định tính và các kỹ thuật định lượng, [ bao gồm CAP của FibroScan], góp phần ngăn chặn diễn tiến gan xơ hóa và chai gan.

ĐỊNH TÍNH:



HÌNH ẢNH SIÊU ÂM


Gan thấm mỡ lan tỏa sinh nhiều echo trên siêu âm B-mode. Các dấu hiệu siêu âm gồm: tăng  echo chủ mô gan, vách mạch máu mờ, tăng giảm âm và khó thấy các phần sâu và sát cơ hoành, và gan lớn.
Có 3 mức độ: 
+nhẹ, tăng echo nhẹ lan tỏa, còn thấy cơ hoành và vách mạch máu trong gan;
+trung bình, tăng echo  trung bình và mờ cơ hoành và vách mạch máu;
+nặng, tăng echo rõ ràng, xuyên thấu kém  ở các phân thùy sau gan phải và kém hay không còn thấy vách mạch máu và cơ hoành.

Gan thấm mỡ khu trú là mỡ khu trú trong gan có echo, có thể có dạng khối nhưng thường có đường viền dạng bản đồ, và không làm dời chỗ mạch máu đi qua.

Gan thấm mỡ không hoàn toàn thường là những vùng echo poor quanh tĩnh mạch cửa, thùy đuôi và quanh hố túi mật, đôi khi cần CT xác định lại.

            Siêu âm thường không nhạy đối với gan thấm mỡ hạt nhỏ.

Khó phân biệt về siêu âm giữa gan thấm mỡ và xơ gan phản ánh các tiêu chuẩn siêu âm bị trùng lấp và cùng có các tiến trình trên cùng bệnh nhân.

VẤN ĐỀ:
1. Gan thấm mỡ độ nhẹ thường bị bỏ sót.
2. Viêm gan mạn cũng có giảm âm phần sâu. 
3. Không phân biệt được bằng siêu âm các nguyên nhân của gan thấm mỡ.
4. Không phân biệt được bằng siêu âm gan thấm mỡ và các loại viêm gan khi có tăng men gan.


Với 101 ca (72 nữ, 55 nam)  có làm histogram cường độ siêu âm gan và thận. 
        - Tiêu chuẩn chẩn đoán siêu âm :
- gan to (gan trái lớn hơn 10cm qua mặt cắt dọc qua động mạch chủ bụng, gan phải lớn hơn 15cm qua mặt cắt gian sườn ở bình diện thận phải).
- mờ vách tĩnh mạch cửa, chỉ chọn các vách giảm echo nhánh xa (gan thấm mỡ độ nhẹ) và giảm echo vách các nhánh chính (độ vừa).

Kết quả=
1/ Thành phần bệnh nhân gan thấm mỡ:  béo phì (25,74%), tiểu đường (18,81%), rượu (06,93%), thuốc corticoid và tương tự (0,99%),   ăn chay (02,97%)
2/ Đa số gan thấm mỡ độ nhẹ (76,24%) còn lại độ vừa (19,8%).
3/ Đa số đều tăng triglycerides TG (59,40% và 66,39%) và có tăng cholesterol CL (66,33% và 72,27%)
    Một số có tăng men gan (gấp 3 trị số bình thường) (41,79%)
     Một số dương tính giả (22/101 và 4/67)
5/ Bình quân độ chênh lệch histogram cường độ siêu âm gan thận số ca gan thấm mỡ là 730/101 = 7,22.

Kết luận:
1/ Siêu âm chẩn đoán gan thấm mỡ đối chiếu với kết quả sinh hóa có độ chính xác là 78,21%.
2/ Đa số nguyên nhân gan thấm mỡ của 2 lô nghiên cứu là béo phì và tiểu đường. Nhưng khó xác định được nguyên nhân vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng cùng lúc (nội tiết, dinh dưỡng, rượu, viêm nhiễm…).
3/ 41,79% có tăng men gan kèm theo tăng TG và CL gợi ý quá trình gan thấm mỡ diễn biến đã lâu, và cần thiết phân biệt với viêm gan do nhiều nguyên nhân khác nhau (viêm gan mỡ, steatohepatitis).


ĐỊNH LƯỢNG:


Histogram cường độ siêu âm gan và thậnchỉ số thấm mỡ gan thận [SHRI]





TISSUE HARMONIC COMPOUND SONOGRAPHY
ACOUSTIC STRUCTURE QUANTIFICATION [ASQ]

ATI : ATTENUATION IMAGING for QUANTIFICATION of FATTY LIVER









CAP  in FIBROSCAN and Hepatic Steatosis.

CÁC HÌNH THÁI SIÊU ÂM CỦA GAN NHIỄM MỠ, BS ĐỖ BÌNH MINH

SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN TRONG VIÊM GAN

LIVER FAT and FIBROSIS

NHÌN LẠI GAN THẤM MỠ

ARFI ĐÁNH GIÁ ĐỘ CỨNG GAN Ở BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯƠNG TYPE 2 

GAN MỠ: ĐÁNH GIÁ CỦA SIÊU ÂM ĐÀN HỒI 

TẠO HÌNH ĐÀN HỒI SÓNG BIẾN DẠNG PHÂN TÁN [SWE DISPERSION]














UNUSUAL NODULAR FATTY INFILTRATION of the LIVER








Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2018

Ultrasound and 12 cases of Toothpick MisEating in 2008-2018


NHÂN 12 CA NUỐT TĂM XỈA RĂNG: VAI TRÒ SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN

 LÝ VĂN PHÁI, LÊ VĂN TÀI, PHẠM THỊ THANH XUÂN, LÊ THỊ THANH THẢO, LÊ TỰ PHÚC, LÊ THANH LIÊM, PHAN THANH HẢI


Nuốt phải tăm xỉa răng không phải dễ chẩn đoán. Y văn có 134 ca đã báo cáo với CT là phương tiện phát hiện trước can thiệp, một số siêu âm có thể thấy được, và trong đó 35% trường hợp  bỏ sót.


Tại Medic từ 2008 đến nay có 12 trường hợp [01 ca ở nữ] nuốt phải tăm xỉa răng được phát hiện  chủ yếu bằng siêu âm [11/12 ca] và CT xác chẩn:
-          2 ca xuyên tá tràng D2 và D3, 1 ca CT không xác định được.
-          2 ca xuyên dạ dày, 1 xuyên dính gan T, 1 xuyên tới nhánh T tĩnh mạch cửa và tạo huyết khối trong tĩnh mạch cửa.
-          2 ca xuyên dạ dày qua túi mật.
-          1 ca xuyên  đại tràng sigma.
-          1 ca xuyên thực quản  ra tuyến giáp sau uống cà phê [nữ].
-          2 ca trong mạc nối lớn gây áp xe thành bụng rốn P và áp xe thành bụng hố chậu T.
-          1 ca trong mạc nối lớn thượng vị.
-          1 ca siêu âm không thấy, CT phát hiện.


     6 ca lấy tăm qua mổ, 3 ca rút tăm qua nội soi tiêu hoá và 3 ca theo dõi điều trị nội khoa 2 tuần. Lâm sàng sau can thiệp hết đau, sinh hoạt bình thừơng, không có biến chứng.
  Hình ảnh siêu âm của tăm  xỉa răng= cấu trúc dạng dài, echo dày trung bình, không có bóng lưng sau. Nếu xuyên thành ống tiêu hóa thì thấy cả 2 đầu ở 2 bên vách ống tiêu hóa, với đầu tận tự do hoặc cắm vào cơ quan lân cận. Nếu thấy ngoại vật trong mạc nối lớn thì ngoại vật đã ra khỏi ống tiêu hóa để vào trong ổ phúc mạc hoặc sau phúc mạc.
 

    Thường bệnh nhân không nhớ đã nuốt phải tăm lúc nào. Không có bệnh nhân có rối loạn tâm thần như y văn. Thói quen ngậm tăm hầu như không có ghi nhận. Tập quán cho tăm vào ly bia của Đài loan đã được báo cáo không có ở Việt nam.  Siêu âm Medic phát hiện nhờ thấy ngoại vật xuyên thành ống tiêu hóa ở các trường hợp đau bụng khu trú. Phân biệt tăm xỉa răng [dày] với xương cá [mảnh hơn] vẫn là thách thức của bác sĩ siêu âm.


ULTRASOUND  DETECTED TOOTHPICK  INGESTION 
NGUYEN THIEN HUNG,  LY VAN PHAI, LE VAN TAI,  PHAM THI THANH XUAN, LE THI THANH THAO, LE TU PHUC,  LE THANH LIEM, PHAN THANH HAI.

MEDIC MEDICAL CENTER, HCMC, VIETNAM

Toothpick ingestion is hard to reveal by ultrasound. In literature  there are 134 published cases   in which CT takes main role of imaging modalities  and still 35% of cases in misdiagnosing.

     In MEDIC CENTER, there are 12 cases of toothpick ingestion which were detected    by ultrasound (11/12 cases) and CT confirmed later since 2008.
·        2 cases of perforation of D2 and D3, one case CT missed.
·        2 cases of perforation of stomach in which is comes to left lobe of liver and cases thrombus in left portal vein.
·        2 cases of perforation of stomach coming to gallbladder.
·        1 case of perforation sigmoid colon.
·        1 case of perforation of esophagus coming to thyroid after coffee drinking in a female patient.
·        2 cases in great epiploon induced abdominal wall abscesses in near umbilicus and in left lower quadrant.
·        1 case in great omentum in epigastric region.
·        1 case CT detected and ultrasound missed.

Invasive retrieval of toothpick infections by surgery for 6 cases, by endoscopy with  3 cases and  3 cases only medical treatments in 2 weeks.
All of cases remain well without complications.


Ultrasound findings of toothpick ingestion= line structure, mediate hyperechoic, no posterior shadowing. In case of perforation of digestive tube, one could be shown both 2 ends in 2 sides of digestive tube wall, with liberal end or with end in adjacent organ. In case toothpick is shown in epiploon then it is out of digestive tube and coming to peritoneal sac or retroperitoneal space.


Patients nearly could not remember when they ingested toothpick. There are no patient with psychological problem in all cases. No patient with bad habit of holding toothpick in mouth. Ultrasound detected toothpick ingestion in cases of local abdominal pain with foreign bodies perforating digestive tube wall. But different diagnosis toothpick (thickening) from fishbone is still challenging for sonologist.










NHÂN 5 CA XƯƠNG CÁ TẠO ÁPXE Ở CỔ VÀ Ổ BỤNG.


Gồm 5 ca, trong đó có 1 ca từ bệnh viện Bình an Kiên giang [ca 313], hóc xương gây áp xe vùng cổ, 


còn lại 1 ca trong tuyến bọt dưới hàm và 3 ca trong ổ bụng tại Medic Hòa Hảo, với 1 ca áp xe trước gan T trì hoãn 2 tháng gây viêm phúc mạc, 2 ca còn lại gây ápxe gan P  và  1 ca  xuyên túi mật qua gan.

Ca mới nhất = Xương cá gây viêm phúc mạc sau siêu âm 2 tháng.



Bnh nữ 43 tuổi, siêu âm 19-5 =ápxe trước gan T nghi có ngoại vật (bs Võ thị ThanhThảo), được CT xác chẩn có ngoại vật xương cá 25mm [bs Trần Lãm], siêu âm lần 2 (13/6) = ápxe trước gan T nghi có ngoại vật, hình ảnh  không thay đổi so với lần trước, [bs Lê thị Thanh Thảo], hội chẩn ngày7/7 với  bs GĐ chuyển bv Bình dân, cho về không mổ , sáng nay 16/7 mổ viêm phúc mạc tại bv Bình dân, ngoại vật là xương cá.


Hình ảnh siêu âm xương cá trong ổ ápxe là cấu trúc dạng đừơng, echo dày, dài, mảnh, không có bóng lưng sau. Siêu âm có thể phát hiện ngoại vật xương cá trong ổ ápxe tùy thuộc vào kỹ năng người khám, vị trí ổ ápxe, thể trạng bệnh nhân [bụng to, béo phì... khó khám].



Ca 265=

Ca 313=


https://www.ultrasoundmedicvn.com/2016/07/case-387-liver-abscess-due-to-fishbone.

Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018

DÀY VÁCH TÚI MẬT và TIÊN LƯỢNG NẶNG SỐT XUẤT HUYẾT DENDUE








Summary

 Dengue fever is one of the most common viral infections with variable clinical presentations and degrees of severity. Gall bladder wall thickening is one of the most common findings in dengue fever. The authors demonstrated four distinct patterns of gall bladder wall thickening in dengue fever patients. The uniform echogenic layer was found to be more common in dengue fever without warning sign, while the honeycomb pattern was more common in severe dengue fever. The research concluded that the patterns of gall bladder wall thickening can be used to diagnose the severity of disease and, when combined with the pattern type in serial ultrasound, may predict the prognosis of the disease.

FURTHER READING:

DÀY VÁCH TÚI MẬT : CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

VIÊM TÚI MẬT HOẠI TỬ: DẤU HIỆU SIÊU ÂM DÀY VÁCH TÚI MẬT và TĂNG BẠCH CẦU


OBJECTIVE. The purpose of our study was to determine, first, if gallbladder wall striations in patients with sonographic fndings suspicious for acute cholecystitis are associated with gangrenous changes and certain histologic features; and, second, if WBC count or other sonographic fndings are associated with gangrenous cholecystitis.
MATERIALS AND METHODS. Sixty-eight patients who underwent cholecystectomies within 48 hours of sonography comprised the study group. Sonograms and reports were reviewed for wall thickness, striations, Murphy sign, pericholecystic fluid, wall irregularity, intraluminal membranes, and luminal short-axis diameter. Medical records were reviewed for WBC count and pathology reports for the diagnosis. Histologic specimens were reviewed for pathologic changes. Statistical analyses tested for associations between nongangrenous
and gangrenous cholecystitis and sonographic fndings and for associations between wall striations and histologic features.
RESULTS. Ten patients had gangrenous cholecystitis and 57, nongangrenous cholecystitis. One had cholesterolosis. Thirty patients had wall striations: 60% had gangrenous and 42% nongangrenous cholecystitis. There was no association with the pathology diagnosis (p = 0.32). There was no association between any histologic feature and wall striations (p ≥ 0.19).

A Murphy sign was reported in 70% of patients with gangrenous cholecystitis and in 82% with nongangrenous cholecystitis; there was no association with the pathology diagnosis (p = 0.39). Wall thickness and WBC count were greater in patients with gangrenous cholecystitis than in those with nongangrenous cholecystitis (p ≤ 0.04).


CONCLUSION. Gallbladder wall thickening and increased WBC counts were associated with gangrenous cholecystitis; however, there was considerable overlap between the two groups. Wall striations and a negative Murphy sign were not associated with gangrenous cholecystitis.