Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

GAN MỠ và XƠ HÓA GAN

Siêu âm giúp phát hiện bệnh lý gan như thế nào?

Siêu âm đóng vai trò là một công cụ hỗ trợ quan trọng, giúp định hướng, đánh giá mức độ tổn thương cấu trúc gan và loại trừ các nguyên nhân khác gây ra triệu chứng tương tự (như tắc mật, u gan).

Cụ thể, siêu âm phát hiện viêm gan thông qua các dấu hiệu sau:


1. Dấu hiệu viêm gan trên siêu âm

Tùy thuộc vào giai đoạn viêm gan là cấp tính hay mạn tính, cấu trúc nhu mô gan sẽ có những thay đổi khác nhau:

Viêm gan cấp tính

Trong giai đoạn cấp, gan bị sưng viêm và phù nề. Trên siêu âm có thể thấy:

  • Gan to ra: Kích thước gan vượt quá mức bình thường.
  • Gan giảm âm toàn bộ: Do tế bào gan bị phù nề chứa nước, nhu mô gan trông sẽ tối (đen) hơn bình thường.
  • Dấu hiệu "trời đầy sao" (Starry Sky sign): Khi nhu mô gan tối đi, đường bờ của các nhánh tĩnh mạch cửa (vốn có màu trắng) sẽ nổi bật lên một cách bất thường, trông giống như những ngôi sao ban đêm.
  • Thành túi mật dày lên: Phản ứng viêm lan tỏa có thể làm thành túi mật dày lên dù bản thân túi mật không bị viêm gốc.

Viêm gan mạn tính

Khi viêm gan kéo dài (trên 6 tháng), các tế bào gan bị tổn thương liên tục và bắt đầu hình thành các mô sẹo (xơ hóa). Siêu âm lúc này sẽ thấy:

  • Nhu mô gan thô, không đều: Gan không còn mịn màng mà bắt đầu có hạt, độ hồi âm tăng (gan sáng/trắng hơn).
  • Kích thước gan thay đổi: Giai đoạn đầu mạn tính gan có thể hơi to, nhưng nếu chuyển sang xơ gan, gan sẽ có xu hướng teo nhỏ lại.

2. Giới hạn của siêu âm thông thường

  • Dễ bỏ sót giai đoạn đầu: Ở giai đoạn viêm gan nhẹ hoặc mới khởi phát, cấu trúc hình thái của gan chưa thay đổi đủ nhiều để có thể nhìn thấy bằng mắt thường trên máy siêu âm 2D truyền thống.
  • Không tìm được nguyên nhân: Siêu âm chỉ thấy được hậu quả (gan phù nề, gan thô), chứ không thể phân biệt được viêm gan này là do virus (A, B, C...), do rượu, do nhiễm độc thuốc hay do tự miễn.

3. Các giải pháp siêu âm và xét nghiệm hiện đại

Để khắc phục giới hạn trên, y học hiện đại kết hợp siêu âm tiên tiến và xét nghiệm máu:

  • Siêu âm đàn hồi mô (Fibroscan / Shear Wave Elastography): Đây là kỹ thuật siêu âm cực kỳ giá trị cho bệnh nhân viêm gan mạn tính. Nó giúp "đo" chính xác độ cứng của gan, từ đó biết được viêm gan đã gây xơ hóa ở mức độ nào (từ F0 - không xơ hóa đến F4 - xơ gan) mà không cần sinh thiết.
  • Xét nghiệm máu (Bắt buộc): Để khẳng định chắc chắn có viêm gan hay không, bác sĩ luôn chỉ định:
    • Men gan (AST, ALT): Tăng cao khi tế bào gan đang bị hủy hoại.
    • Xét nghiệm huyết thanh: Tìm virus (HBsAg, Anti-HCV...) để xác định chính xác nguyên nhân.

Tóm lại: Siêu âm phát hiện được các biến đổi cấu trúc do viêm gan gây ra (đặc biệt rõ ở giai đoạn cấp tính rõ rệt hoặc mạn tính lâu năm). Tuy nhiên, để chẩn đoán chính xác bệnh và tìm nguyên nhân, bạn cần kết hợp siêu âm với xét nghiệm máu.

Siêu âm và bệnh lý gan

Siêu âm là phương thức chẩn đoán hình ảnh hàng đầu, nhanh chóng và không xâm lấn để đánh giá cấu trúc gan bệnh lý. Khi nhu mô gan thay đổi do bệnh lý, hình ảnh siêu âm (độ hồi âm - echogenicity, kích thước, bờ gan, và mạch máu) sẽ thay đổi cấu trúc một cách đặc trưng.

Dưới đây là cách siêu âm đánh giá và phân loại các cấu trúc gan bệnh lý chính:


1. Bệnh lý gan lan tỏa (Diffuse Liver Diseases)

Bệnh lý lan tỏa làm thay đổi toàn bộ hoặc phần lớn nhu mô gan, thay đổi độ sáng (độ hồi âm) so với thận và lách.

  • Gan nhiễm mỡ (Fatty Liver):
    • Hình ảnh: Nhu mô gan tăng âm (sáng hơn bình thường), gây mờ vùng cơ hoành và các mạch máu sâu bên trong (do chùm sóng âm bị giảm suy giảm mạnh).
    • Đánh giá: Thường được chia làm 3 mức độ (Nhẹ, Vừa, Nặng) dựa trên mức độ giảm âm vùng sâu và khả năng xóa mờ các mạch máu.
  • Viêm gan cấp và mạn tính (Hepatitis):
    • Cấp tính: Gan có thể to ra, giảm hồi âm toàn bộ (gan tối hơn), khiến các đường bờ tĩnh mạch cửa nổi bật lên (dấu hiệu "bầu trời đầy sao" - Starry sky).
    • Mạn tính: Nhu mô gan bắt đầu tăng âm thô, không đều do quá trình viêm và xơ hóa sợi kéo dài.
  • Xơ gan (Cirrhosis):
    • Hình ảnh: Cấu trúc nhu mô gan thô, không đều, bờ gan trở nên gồ ghề, dạng nốt (nodular surface). Kích thước gan giai đoạn đầu có thể to, nhưng giai đoạn muộn sẽ teo nhỏ (đặc biệt là thùy phải) và phì đại thùy đuôi.
    • Dấu hiệu tăng áp lực tĩnh mạch cửa kèm theo: Giãn tĩnh mạch cửa (>13mm), lách to, dịch cổ trướng (báng bụng), và tái thông tĩnh mạch rốn.

2. Tổn thương khu trú tại gan (Focal Liver Lesions)

Siêu âm giúp phát hiện, định vị và gợi ý bản chất của các khối u hoặc nang trong gan.

Tổn thương lành tính

  • Nang gan (Liver Cyst): Cấu trúc trống âm hoàn toàn (đen), thành mỏng, có bóng tăng âm phía sau rõ rệt.
  • U máu gan (Hemangioma): Khối lành tính thường gặp nhất. Thường là một khối tăng âm (trắng), đồng nhất, giới hạn rõ, không có tín hiệu mạch máu mạnh bên trong trên siêu âm Doppler.
  • Tăng sản nốt khu trú (FNH): Khối có độ hồi âm thay đổi (đồng âm hoặc kém), đặc trưng bởi sẹo trung tâm hình sao và có mạch máu nuôi dạng nan hoa trên Doppler.

Tổn thương ác tính

  • Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC): Cấu trúc rất đa dạng (giảm âm, tăng âm hoặc hỗn hợp). Thường có viền giảm âm xung quanh (vỏ bao u). Trên Doppler màu thường thấy hiện tượng tăng sinh mạch máu hỗn loạn bên trong và xung quanh khối u.
  • Ung thư gan thứ phát (Di căn gan - Metastasis): Thường xuất hiện đa ổ, kích thước khác nhau. Hình ảnh điển hình là dấu hiệu "mắt bò" (Bull's eye) hoặc "hình bia bắn" (thần trung tâm tăng hoặc kém âm, xung quanh có viền giảm âm dày).

3. Các chỉ số và kỹ thuật siêu âm tiên tiến hỗ trợ

Để tăng độ chính xác thay vì chỉ nhìn bằng mắt thường (định tính), siêu âm hiện đại áp dụng các kỹ thuật định lượng:

  • Siêu âm Doppler (Doppler Ultrasound): Đánh giá huyết động học, phát hiện huyết khối tĩnh mạch cửa (thường gặp trong HCC hoặc xơ gan) và đo vận tốc dòng chảy.
  • Siêu âm đàn hồi mô (Elasticity Imaging/Shear Wave Elastography): Đây là "bước tiến lớn" trong đánh giá cấu trúc gan. Kỹ thuật này đo độ cứng của nhu mô gan (bằng đơn vị kPa hoặc m/s) để phân độ xơ gan (từ F0 đến F4) một cách chính xác mà không cần sinh thiết.
  • Siêu âm có chất cản âm (CEUS): Sử dụng các vi bong bóng để đánh giá động học tưới máu của khối u (thì động mạch, thì tĩnh mạch), giúp phân biệt chính xác u lành và u ác tương tự như chụp CT hay MRI.

Tóm lại: Siêu âm là công cụ tầm soát và đánh giá cấu trúc gan bệnh lý có hiệu quả. Khi siêu âm phát hiện cấu trúc gan thô, nốt khu trú hoặc nghi ngờ ác tính, bác sĩ thường sẽ chỉ định kết hợp thêm xét nghiệm máu (AFP, men gan) và chụp CT-Scanner hoặc MRI có tiêm thuốc cản quang để đưa ra chẩn đoán xác định.

Siêu âm trong gan thấm mỡ
Tích mỡ trong gan có thể do lạm dụng rượu, một số thuốc men, viêm gan siêu vi, bệnh gan tự miễn, bệnh gan biến dưỡng hoặc di truyền. Loại được tất cả các nguyên nhân này có thể phát hiện gan thấm mỡ không do rượu [NAFL]. Gan thấm mỡ không do rượu có nguy cơ chai gan, với cảnh báo trở thành dịch trong thập niên tới. 
(MRI, là một công cụ đánh giá gan thấm mỡ tuyệt vời, nhưng  không có khả năng sàng lọc nhanh, chi phí thấp như siêu âm).

Siêu âm B-mode có khả năng phát hiện sớm gan thấm mỡ bằng định tính và các kỹ thuật định lượng, [ bao gồm CAP của FibroScan], góp phần ngăn chặn diễn tiến gan xơ hóa và chai gan.

ĐỊNH TÍNH:



HÌNH ẢNH SIÊU ÂM


Gan thấm mỡ lan tỏa sinh nhiều echo trên siêu âm B-mode. Các dấu hiệu siêu âm gồm: tăng  echo chủ mô gan, vách mạch máu mờ, tăng giảm âm và khó thấy các phần sâu và sát cơ hoành, và gan lớn.
Có 3 mức độ: 
+nhẹ, tăng echo nhẹ lan tỏa, còn thấy cơ hoành và vách mạch máu trong gan;
+trung bình, tăng echo  trung bình và mờ cơ hoành và vách mạch máu;
+nặng, tăng echo rõ ràng, xuyên thấu kém  ở các phân thùy sau gan phải và kém hay không còn thấy vách mạch máu và cơ hoành.

Gan thấm mỡ khu trú là mỡ khu trú trong gan có echo, có thể có dạng khối nhưng thường có đường viền dạng bản đồ, và không làm dời chỗ mạch máu đi qua.

Gan thấm mỡ không hoàn toàn thường là những vùng echo poor quanh tĩnh mạch cửa, thùy đuôi và quanh hố túi mật, đôi khi cần CT xác định lại.

            Siêu âm thường không nhạy đối với gan thấm mỡ hạt nhỏ.

Khó phân biệt về siêu âm giữa gan thấm mỡ và xơ gan phản ánh các tiêu chuẩn siêu âm bị trùng lấp và cùng có các tiến trình trên cùng bệnh nhân.

VẤN ĐỀ:
1. Gan thấm mỡ độ nhẹ thường bị bỏ sót.
2. Viêm gan mạn cũng có giảm âm phần sâu. 
3. Không phân biệt được bằng siêu âm các nguyên nhân của gan thấm mỡ.
4. Không phân biệt được bằng siêu âm gan thấm mỡ và các loại viêm gan khi có tăng men gan.


Với 101 ca (72 nữ, 55 nam)  có làm histogram cường độ siêu âm gan và thận. 
•        - Tiêu chuẩn chẩn đoán siêu âm :
- gan to (gan trái lớn hơn 10cm qua mặt cắt dọc qua động mạch chủ bụng, gan phải lớn hơn 15cm qua mặt cắt gian sườn ở bình diện thận phải).
- mờ vách tĩnh mạch cửa, chỉ chọn các vách giảm echo nhánh xa (gan thấm mỡ độ nhẹ) và giảm echo vách các nhánh chính (độ vừa).

Kết quả=
1/ Thành phần bệnh nhân gan thấm mỡ:  béo phì (25,74%), tiểu đường (18,81%), rượu (06,93%), thuốc corticoid và tương tự (0,99%),   ăn chay (02,97%)
2/ Đa số gan thấm mỡ độ nhẹ (76,24%) còn lại độ vừa (19,8%).
3/ Đa số đều tăng triglycerides TG (59,40% và 66,39%) và có tăng cholesterol CL (66,33% và 72,27%)
    Một số có tăng men gan (gấp 3 trị số bình thường) (41,79%)
     Một số dương tính giả (22/101 và 4/67)
5/ Bình quân độ chênh lệch histogram cường độ siêu âm gan thận số ca gan thấm mỡ là 730/101 = 7,22.

Kết luận:
1/ Siêu âm chẩn đoán gan thấm mỡ đối chiếu với kết quả sinh hóa có độ chính xác là 78,21%.
2/ Đa số nguyên nhân gan thấm mỡ của 2 lô nghiên cứu là béo phì và tiểu đường. Nhưng khó xác định được nguyên nhân vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng cùng lúc (nội tiết, dinh dưỡng, rượu, viêm nhiễm…).
3/ 41,79% có tăng men gan kèm theo tăng TG và CL gợi ý quá trình gan thấm mỡ diễn biến đã lâu, và cần thiết phân biệt với viêm gan do nhiều nguyên nhân khác nhau (viêm gan mỡ, steatohepatitis).


ĐỊNH LƯỢNG:


Histogram cường độ siêu âm gan và thận và chỉ số thấm mỡ gan thận [SHRI]





TISSUE HARMONIC COMPOUND SONOGRAPHY
ACOUSTIC STRUCTURE QUANTIFICATION [ASQ]

ATI : ATTENUATION IMAGING for QUANTIFICATION of FATTY LIVER









CAP  in FIBROSCAN and Hepatic Steatosis.

CÁC HÌNH THÁI SIÊU ÂM CỦA GAN NHIỄM MỠ, BS ĐỖ BÌNH MINH

SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN TRONG VIÊM GAN

LIVER FAT and FIBROSIS

NHÌN LẠI GAN THẤM MỠ

ARFI ĐÁNH GIÁ ĐỘ CỨNG GAN Ở BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯƠNG TYPE 2 

GAN MỠ: ĐÁNH GIÁ CỦA SIÊU ÂM ĐÀN HỒI 

TẠO HÌNH ĐÀN HỒI SÓNG BIẾN DẠNG PHÂN TÁN [SWE DISPERSION]














UNUSUAL NODULAR FATTY INFILTRATION of the LIVER








Thứ Ba, 4 tháng 9, 2018

Ultrasound in Chronic Liver Disease, a Review


Ultrasound in Chronic Liver Disease, a Review

J. F. Gerstenmaier and R. N. Gibson

Insights Imaging. 2014 Aug; 5(4): 441–455.
Published online 2014 May 24. doi:  10.1007/s13244-014-0336-2

Abstract
Background 
With the high prevalence of diffuse liver disease there is a strong clinical need for noninvasive detection and grading of fibrosis and steatosis as well as detection of complications.

Methods
B-mode ultrasound supplemented by portal system Doppler and contrast-enhanced ultrasound are the principal techniques in the assessment of liver parenchyma and portal venous hypertension and in hepatocellular carcinoma surveillance.

Results
Fibrosis can be detected and staged with reasonable accuracy using Transient Elastography and Acoustic Radiation Force Imaging. Newer elastography techniques are emerging that are undergoing validation and may further improve accuracy. Ultrasound grading of hepatic steatosis
currently is predominantly qualitative.

Conclusion
A summary of methods including B-mode, Doppler, contrast-enhanced ultrasound and various elastography techniques, and their current performance in assessing the liver, is provided.

Teaching Points

• Diffuse liver disease is becoming more prevalent and there is a strong clinical need for noninvasive detection.
• Portal hypertension can be best diagnosed by demonstrating portosystemic collateral venous flow.
• B-mode US is the principal US technique supplemented by portal system Doppler.
• B-mode US is relied upon in HCC surveillance, and CEUS is useful in the evaluation of possible HCC.
• Fibrosis can be detected and staged with reasonable accuracy using TE and ARFI.
• US detection of steatosis is currently reasonably accurate but grading of severity is of limited accuracy.

Future perspective

The increasing prevalence of chronic liver disease, including fatty liver disease, together with the need to minimise invasive liver biopsies will continue to provide substantial drive for ultrasound research and development.

Conventional B-mode ultrasound =
 + Quantification of echointensity in the diagnosis of fatty liver disease is an area of recent interest. Standardisation of technique and interobserver eproducibility will need to be addressed.
  + Quantitative and semi-quantitative assessment of echotexture in the diagnosis of fibrosis and fatty liver disease is being developed

Doppler ultrasound =
 The role of Doppler ultrasound in chronic liver disease is likely to remain principally in the diagnosis of portal venous hypertension

Contrast-enhanced ultrasound =
 Kupffer-phase contrast agents can be used in the grading of fibrosis as well as in the detection of focal lesions,and it is hoped that these agents will become more widely available.

Elastography
 More widespread use of the two most extensively validated and established techniques of TE and ARFI is expected, and further shear wave elastography techniques are likely to become more widely adopted and evaluated.


Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

PoCUS for WRIST TRAUMA




Abstract

Objective

We evaluated the effectiveness of point-of-care wrist ultrasonography compared with 3T-magnetic resonance imaging (MRI) for diagnosing triangular fibrocartilage complex (TFCC) injuries in trauma patients with ulnar-sided pain and instability. Moreover, we assessed the inter-observer variability between an emergency physician and a musculoskeletal radiology fellow.

Material and methods

A prospective cross-sectional study was conducted in an emergency department; patients with ulnar-sided sprain and instability were recruited. An emergency physician and a musculoskeletal radiology fellow independently evaluated the TFC, meniscal homologue, volar and dorsal distal radioulnar ligaments, and extensor carpi ulnaris using point-of-care ultrasonography. Findings were classified as normal, partial rupture, or complete rupture. Wrist 3T-MRI was used as the reference standard. We compared the diagnostic values for point-of-care ultrasonography obtained by both reviewers using DeLong's test. Intra-class correlation coefficients (ICCs) were calculated for agreement between each reviewer and the reference standard, and directly between the two reviewers.

Results

Sixty-five patients were enrolled. Point-of-care wrist ultrasonography showed acceptable sensitivity (97.2–99.1%), specificity (96.8–97.3%), and accuracy (96.9–97.9%); these diagnostic performance values did not differ significantly between reviewers (p = 0.58–0.98). Agreement between each reviewer and the reference standard was excellent (emergency physician, ICC = 0.964; musculoskeletal radiology fellow, ICC = 0.976), as was the inter-observer agreement (ICC = 0.968).

Conclusion

Point-of-care wrist ultrasonography is as precise as MRI for detecting TFCC injuries, and can be used for immediate diagnosis and further preoperative imaging. Moreover, it may shorten the interval from emergency department admission to surgical intervention while reducing costs.

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2018

PTOSIS and DIABETES

From this case, we suggest that when evaluating patients with acute onset ptosis as the only manifestation, diabetic-vasculopathic neuropathy should be considered. 
This case also implies that the most interior portion of the third cranial nerve may consist of nerve fibers mainly innervating the levator palpebrae superioris.




Handheld ultrasound + CADx helps triage breast masses


By Kate Madden Yee, AuntMinnie.com staff writer
August 31, 2018 -- Researchers successfully used a combination of handheld ultrasound and computer-aided diagnosis (CADx) software to triage women in Mexico who had palpable breast masses. They believe the combination is good news for women who may not have access to screening mammography, according to an article published online August 29 in the Journal of Global Oncology.
"[Our] results open up the possibility of implementing practical, cost-effective triage of palpable breast lumps, ensuring that scarce resources can be dedicated to suspicious lesions requiring further workup," wrote a team led by Dr. Susan Love of the Dr. Susan Love Research Foundation in Encino, CA.
In low- to middle-income countries, 23% of new breast cancer cases occur among women ages 15 to 49 years, compared with 10% of new breast cancer cases in high-income countries. Because screening mammography is not necessarily available, women often present with palpable breast lumps; although most of these masses are benign, it's important to determine which of them need further evaluation, Love and colleagues wrote.
In these situations, portable ultrasound is often available, but image interpretation has traditionally been performed by radiologists or breast surgeons -- who may be in short supply.
"At [our study] site, the average wait for a diagnostic ultrasound is nine months because of limited available trained radiologists," the researchers wrote. "Many of the participants traveled up to six hours by bus to participate in this study, corroborating the need for a simple accessible local means of triage."
For the study, Love's group trained three nonradiologist healthcare workers in Jalisco, Mexico, to determine whether they could use ultrasound to acquire images of sufficient quality for accurate analysis by CADx software. The workers were a first-year medical student, a surgical nurse, and a gynecologic intern who used a portable ultrasound scanner (Vscan, GE Healthcare) to acquire orthogonal views of 32 breast masses in 32 women.
The images were analyzed using what the researchers call "triage CADx," an artificial intelligence-based CADx program for ultrasound that is based on convolutional neural networks. CAD results were then compared with radiologist readings.
Among the 32 masses, two were malignant. Nonradiologist healthcare staff was able to acquire adequate images, Love and colleagues found. In addition, triage by the software was as accurate as radiologist assessment of the masses, with 100% sensitivity and specificity.
The results suggest a way to make use of limited breast care resources in low- to middle-income countries.
"This study demonstrates that first-level healthcare workers are capable of acquiring images with a portable ultrasound machine comparable to those of a trained radiologist," the group concluded.